Home » ki luc
Đồi cát Mũi Né được công nhận kỷ lục Việt Nam
Trên diện tích gần 50 ha, đồi cát Mũi Né tập trung khá nhiều màu sắc và sau mỗi đợt gió lớn, hoặc một ngày đêm thì đồi lại có hình dạng khác hẳn. Kỳ quan này vừa lọt vào danh sách kỷ lục Việt Nam tại tỉnh Bình Thuận.

Đồi cát vàng
Đồi cát thiên nhiên Mũi Né vừa vào danh sách kỷ lục thiên nhiên Việt Nam.
Các nhà khoa học đã chứng minh, hai cơ chế gió mùa Đông Bắc và Tây Nam đã ảnh hưởng đến đồi và gây những biến chuyển địa lý. Mũi Né được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam Vietkings công nhận là đồi cát thay đổi hình dạng tự nhiên nhiều nhất tại Việt Nam.
Ngôi chùa có nhiều kỷ lục
Tọa lạc tại đường Trần Quang Khải (phường Hưng Long, TP.Phan Thiết),
chùa Phật Quang được xây dựng vào khoảng những năm đầu của thế kỷ 18.
Theo lịch sử, đây là thời điểm những người Việt đầu tiên đến vùng đất
Phan Thiết-Bình Thuận nên chùa xem là ngôi chùa lâu đời nhất của thành
phố biển Phan Thiết.
Đọc Tiếp...…
Với địa thế nằm giữa những
đồi cát đặc trưng miền biển cực Nam Trung bộ, chùa Phật Quang còn gần
gũi với người dân địa phương bằng tên gọi: Chùa Cát! Không chỉ là “cái
nôi” Phật giáo của Bình Thuận, lịch sử hình thành của chùa Phật Quang
còn gắn liền với những di sản văn hóa vô giá. Vừa có công xây dựng chùa,
3 vị Thiền sư người Trung Quốc là Ninh Dung, Thiết Huệ và Thiết Sắc còn
để lại chùa chiếc Đại Hồng Chung lớn đúc từ năm 1750 và bộ kinh Pháp
Hoa khắc gỗ đồ sộ và độc đáo. Mất 28 năm (từ 1706-1734) 3 vị Thiền sư
mới khắc xong bộ kinh Pháp Hoa gồm 118 bản gỗ thị huyết với 600.000 con
chữ và rất nhiều hình ảnh đức Phật thuyết pháp. Và bộ kinh vô giá này
được xác lập kỷ lục “xưa nhất Việt Nam” vào ngày 2/1/2006. Tiếp đó, vào
ngày 7/11/2006, chùa Phật Quang còn nhận thêm một kỷ lục là ngôi chùa có
“mõ gia trì lớn nhất Việt Nam”.
Trải qua rất nhiều lần trùng tu và sửa chữa, ngôi chùa cổ với nhiều nét kiến trúc đậm dấu ấn Phật giáo Trung Hoa với cổng tam quan, chùa tổ, chính điện, tháp chuông…chùa Phật Quang hôm nay vừa giữ lại những nét kiến trúc truyền thống, vừa mang những giá trị văn hóa Phật giáo lẫn miền biển đấy nắng gió. Lẫn giữa những nét đẹp của nghệ thuật chạm khắc độc đáo trong kiến trúc và trang trí, chùa Phật Quang còn hấp dẫn bởi những…cái nhất: chùa trang trí nhiều rồng nhất (166 con), trang trí nhiều hoa văn và phù điêu nhất, trong đó có những phù điêu trang trí khắc họa những thắng cảnh nổi tiếng của Phan Thiết và Việt Nam. Và mới đây nhất, vào ngày 24/10/2007, Công ty Kỷ lục Vietkings đã trao kỷ lục chùa có “mõ gia trì lớn nhất Việt Nam”.
Giữa không khí sôi động của một thành phố du lịch hôm nay, chùa Phật Quang vẫn trầm mặc và yên bình như hàng trăm năm qua nên thu hút rất đông tín đồ Phật tử và du khách khắp nơi tìm đến. Không chỉ thanh thản với những giây phút nghiêng mình bên đức Phật tại ngôi chùa xưa nhất, mà mọi người còn có dịp khám phá và chiêm ngưỡng những điều kỳ thú từ các di sản văn hóa vô giá cho đến lối kiến trúc của những tượng Phật và Bồ Tát xung quanh. Và sắp tới đây, khi chùa Phật Quang hoàn thành tòa Bảo Tháp Pháp Hoa cao 32m để thờ bộ kinh Pháp Hoa và “bộ sưu tập” 50.000 tượng Phật Di Lặc… không chỉ trở thành ngôi chùa với nhiều kỷ lục, mà chùa Phật Quang còn trở thành một điểm du lịch nổi tiếng mà mọi du khách không thể bỏ qua khi đến với thành phố biển xinh đẹp Phan Thiết!
Trải qua rất nhiều lần trùng tu và sửa chữa, ngôi chùa cổ với nhiều nét kiến trúc đậm dấu ấn Phật giáo Trung Hoa với cổng tam quan, chùa tổ, chính điện, tháp chuông…chùa Phật Quang hôm nay vừa giữ lại những nét kiến trúc truyền thống, vừa mang những giá trị văn hóa Phật giáo lẫn miền biển đấy nắng gió. Lẫn giữa những nét đẹp của nghệ thuật chạm khắc độc đáo trong kiến trúc và trang trí, chùa Phật Quang còn hấp dẫn bởi những…cái nhất: chùa trang trí nhiều rồng nhất (166 con), trang trí nhiều hoa văn và phù điêu nhất, trong đó có những phù điêu trang trí khắc họa những thắng cảnh nổi tiếng của Phan Thiết và Việt Nam. Và mới đây nhất, vào ngày 24/10/2007, Công ty Kỷ lục Vietkings đã trao kỷ lục chùa có “mõ gia trì lớn nhất Việt Nam”.
Giữa không khí sôi động của một thành phố du lịch hôm nay, chùa Phật Quang vẫn trầm mặc và yên bình như hàng trăm năm qua nên thu hút rất đông tín đồ Phật tử và du khách khắp nơi tìm đến. Không chỉ thanh thản với những giây phút nghiêng mình bên đức Phật tại ngôi chùa xưa nhất, mà mọi người còn có dịp khám phá và chiêm ngưỡng những điều kỳ thú từ các di sản văn hóa vô giá cho đến lối kiến trúc của những tượng Phật và Bồ Tát xung quanh. Và sắp tới đây, khi chùa Phật Quang hoàn thành tòa Bảo Tháp Pháp Hoa cao 32m để thờ bộ kinh Pháp Hoa và “bộ sưu tập” 50.000 tượng Phật Di Lặc… không chỉ trở thành ngôi chùa với nhiều kỷ lục, mà chùa Phật Quang còn trở thành một điểm du lịch nổi tiếng mà mọi du khách không thể bỏ qua khi đến với thành phố biển xinh đẹp Phan Thiết!
Chùa trên Lầu Ông Hoàng
Lầu Ông Hoàng được mệnh danh là “con mắt xanh” của thành phố Phan Thiết.
Cách thành phố 6 km về hướng Đông Bắc, nơi đây hiện vẫn còn lưu lại di
tích của một thời xa xưa cùng huyền thoại về một thi sĩ đa tài, bạc mệnh
làm quyến rũ hàng triệu trái tim du khách.
Đọc Tiếp...…
Tương truyền, ngày
26-12-1910, một ông Hoàng người Pháp, công tước De Montpensier, sang
Đông Dương du lịch, săn bắn và đã bị ngọn đồi “chinh phục”. Ông nảy sinh
ý tưởng xây dựng một ngôi dinh thự trên ngọn đồi tuyệt vời này. Nguyện
vọng đó đã được nhà cầm quyền Pháp ở Bình Thuận chấp thuận và bán ngọn
đồi Bà Nài cho ông. Cuối tháng 2 năm sau, vị công tước cho khởi công xây
dựng ngôi dinh thự trong diện tích 536m2, cách nhóm tháp Pô-Sha-Nư 100 m
về hướng Nam, bao gồm 13 phòng với những tiện nghi hiện đại và sang
trọng vào loại bậc nhất thời bấy giờ. Từ đó, nhân dân trong vùng quen
gọi ngọn đồi với cái tên của chủ nhân nó: Lầu Ông Hoàng. Mấy chục năm
sau, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã đến địa danh này và để lại những câu chuyện
tình cảm động khiến cho Lầu Ông Hoàng càng tăng thêm tính huyền thoại,
nhất là vào những đêm trăng:
Ta lang thang tìm tới chốn lầu trăng
Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! Là Phan Thiết! Phan Thiết!
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi…
Hiện nay, Lầu Ông Hoàng bao gồm một quần thể núi đồi, sông, biển, chùa tháp tạo thành một thắng cảnh nổi tiếng của đất Bình Thuận. Từ xa xưa, ngọn đồi là nơi ngự trị của nhóm tháp cổ Pô-Sha-Nư, nơi thờ các tiểu tiên nữ con gái thần mẹ Pô Nagar. Tuyệt tác của dân tộc Chăm hiện nay chỉ còn lại ba ngôi tháp và nhiều thân tháp khác bị đổ chỉ còn lại những nền móng, phế tích. Ba ngôi tháp phân bổ trên hai tầng đất, quay mặt về hướng biển - những ngọn tháp vuông nhiều tầng, có niên đại từ thế kỷ thứ VIII, thuộc phong cách nghệ thuật Hòa Lai, một loại hình tháp Khmer thời Chân Lạp.
Có lẽ những di tích và huyền thoại kia to lớn đến độ che lấp cả một ngôi chùa cổ được mệnh danh là “ngự tứ” nằm ngay trên tầng đất thứ hai của ngọn đồi. Ngôi chùa được xây dựng từ năm nào không rõ, có lẽ vào khoảng 200 năm sau thời kỳ mở đất Bình Thuận, khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Chùa được vua Gia Long ngự ban cho danh hiệu “Ngự tứ Bửu Sơn tự”. Chùa quay mặt về thành phố Phan Thiết, hướng cửa biển Phú Hài quanh năm lộng gió, lưng đấu với một trong ba ngôi tháp cổ Pô-Sha-Nư. Đứng trên chùa, du khách có thể nhìn bao quát về thành phố Phan Thiết - buổi chiều, thành phố đẹp như một bài thơ; buổi sáng, nhìn về phía biển, biển rực hồng tuyệt đẹp. Nhất là vào những đêm rằm, chùa “dào dạt ánh trăng thanh” - như câu thơ của thi sĩ Huyền Không ngày nào.
Chùa Bửu Sơn khá nhỏ, nhìn từ xa không có gì ấn tượng, ngoại trừ những pho tượng lộ thiên màu trắng, nổi bật lên bởi ngọn tháp cổ màu đất nung đỏ rực phía sau làm nền. Chính điện thờ Phật Thích Ca và những pho tượng cổ hiện nay đã mất do một thời gian dài chiến tranh và vắng bóng trụ trì. Năm 1950, chùa bị phá hủy hoàn toàn bởi bom đạn. Đến năm 1954, hai Phật tử Phạm Khắc Minh và Nguyễn Thanh Vân xây dựng lại với kiến trúc như hôm nay. Năm 1958, chùa thành lập Gia đình Phật tử Thiện Chánh do ông Lâm Vĩnh Bá tổ chức. Năm 1961, bổn đạo và ông Lâm Vĩnh Bá trùng tu lại chùa, dựng pho tượng Quán Thế Âm lộ thiên quay mặt về hướng biển như sẵn lòng phù hộ cho ngư dân quanh vùng Phú Hài…
Bên cạnh chùa hiện nay vẫn còn một ngôi tháp nhỏ hai tầng, không biết là của vị tổ sư nào. Bởi chùa đã trải qua nhiều đời trụ trì và những đời trụ trì đầu không còn biết rõ thời gian, như: Hòa thượng Hoằng Phúc, Đại sư Tâm Quảng. Trong vòng 10 năm, từ 1964 đến 1974, chùa trải qua đến 7 đời trụ trì và không có vị nào trụ trì được quá 3 năm! Vị trụ trì hiện nay còn khá trẻ, ĐĐ Thích Nguyên Sắc, sau khi tốt nghiệp trường Trung cấp Phật học tỉnh Bình Thuận năm 2000, thầy đã được bổ nhiệm về trụ trì chùa Bửu Sơn cho đến nay.
Hiện tại, chùa đang được ĐĐ Nguyên Sắc tu bổ nhẹ. Hầu như không thừa hưởng những “di sản” trước đó bao nhiêu ngoài ngôi chùa cổ và một bộ phan bằng gỗ khắc danh hiệu của những vị Bồ tát - được xem là một vật quý, độc đáo và đặc sắc - ĐĐ Nguyên Sắc hầu như phải gầy dựng lại từ đầu, từ việc tạo cảnh quan chùa cho đến tạo không khí sinh hoạt tín ngưỡng, tu tập cho Phật tử đến chùa tụng kinh, lễ Phật. Ước mong của vị ĐĐ trẻ này là làm sao cho ngôi chùa là một điểm đến tâm linh của du khách khi hành hương Phan Thiết. Đặc biệt vào mùa nắng hạn, “con mắt xanh” của Phan Thiết như khép lại, để trơ một ngọn đồi khô khốc, nên việc trồng cây xanh quanh chùa là một việc làm thiết thực và khẩn cấp.

Ngày nay, khi nhắc đến nhóm di tích Lầu Ông Hoàng, người ta không thể không nhắc đến ngôi chùa Bửu Sơn. Tuy nhiên, để ngôi chùa thực sự là một điểm đến của du khách, thiết tưởng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh cần phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Bình Thuận tôn tạo lại cảnh quan ngôi chùa cổ “ngự tứ”, nhất là việc xin phép dựng lại pho tượng Quan Âm đã bị đổ nát trên đỉnh đồi để khu di tích bớt lạnh lẽo và hoang phế thêm.
Ta lang thang tìm tới chốn lầu trăng
Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! Là Phan Thiết! Phan Thiết!
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi…
Hiện nay, Lầu Ông Hoàng bao gồm một quần thể núi đồi, sông, biển, chùa tháp tạo thành một thắng cảnh nổi tiếng của đất Bình Thuận. Từ xa xưa, ngọn đồi là nơi ngự trị của nhóm tháp cổ Pô-Sha-Nư, nơi thờ các tiểu tiên nữ con gái thần mẹ Pô Nagar. Tuyệt tác của dân tộc Chăm hiện nay chỉ còn lại ba ngôi tháp và nhiều thân tháp khác bị đổ chỉ còn lại những nền móng, phế tích. Ba ngôi tháp phân bổ trên hai tầng đất, quay mặt về hướng biển - những ngọn tháp vuông nhiều tầng, có niên đại từ thế kỷ thứ VIII, thuộc phong cách nghệ thuật Hòa Lai, một loại hình tháp Khmer thời Chân Lạp.
Có lẽ những di tích và huyền thoại kia to lớn đến độ che lấp cả một ngôi chùa cổ được mệnh danh là “ngự tứ” nằm ngay trên tầng đất thứ hai của ngọn đồi. Ngôi chùa được xây dựng từ năm nào không rõ, có lẽ vào khoảng 200 năm sau thời kỳ mở đất Bình Thuận, khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Chùa được vua Gia Long ngự ban cho danh hiệu “Ngự tứ Bửu Sơn tự”. Chùa quay mặt về thành phố Phan Thiết, hướng cửa biển Phú Hài quanh năm lộng gió, lưng đấu với một trong ba ngôi tháp cổ Pô-Sha-Nư. Đứng trên chùa, du khách có thể nhìn bao quát về thành phố Phan Thiết - buổi chiều, thành phố đẹp như một bài thơ; buổi sáng, nhìn về phía biển, biển rực hồng tuyệt đẹp. Nhất là vào những đêm rằm, chùa “dào dạt ánh trăng thanh” - như câu thơ của thi sĩ Huyền Không ngày nào.
Chùa Bửu Sơn khá nhỏ, nhìn từ xa không có gì ấn tượng, ngoại trừ những pho tượng lộ thiên màu trắng, nổi bật lên bởi ngọn tháp cổ màu đất nung đỏ rực phía sau làm nền. Chính điện thờ Phật Thích Ca và những pho tượng cổ hiện nay đã mất do một thời gian dài chiến tranh và vắng bóng trụ trì. Năm 1950, chùa bị phá hủy hoàn toàn bởi bom đạn. Đến năm 1954, hai Phật tử Phạm Khắc Minh và Nguyễn Thanh Vân xây dựng lại với kiến trúc như hôm nay. Năm 1958, chùa thành lập Gia đình Phật tử Thiện Chánh do ông Lâm Vĩnh Bá tổ chức. Năm 1961, bổn đạo và ông Lâm Vĩnh Bá trùng tu lại chùa, dựng pho tượng Quán Thế Âm lộ thiên quay mặt về hướng biển như sẵn lòng phù hộ cho ngư dân quanh vùng Phú Hài…

Bên cạnh chùa hiện nay vẫn còn một ngôi tháp nhỏ hai tầng, không biết là của vị tổ sư nào. Bởi chùa đã trải qua nhiều đời trụ trì và những đời trụ trì đầu không còn biết rõ thời gian, như: Hòa thượng Hoằng Phúc, Đại sư Tâm Quảng. Trong vòng 10 năm, từ 1964 đến 1974, chùa trải qua đến 7 đời trụ trì và không có vị nào trụ trì được quá 3 năm! Vị trụ trì hiện nay còn khá trẻ, ĐĐ Thích Nguyên Sắc, sau khi tốt nghiệp trường Trung cấp Phật học tỉnh Bình Thuận năm 2000, thầy đã được bổ nhiệm về trụ trì chùa Bửu Sơn cho đến nay.
Hiện tại, chùa đang được ĐĐ Nguyên Sắc tu bổ nhẹ. Hầu như không thừa hưởng những “di sản” trước đó bao nhiêu ngoài ngôi chùa cổ và một bộ phan bằng gỗ khắc danh hiệu của những vị Bồ tát - được xem là một vật quý, độc đáo và đặc sắc - ĐĐ Nguyên Sắc hầu như phải gầy dựng lại từ đầu, từ việc tạo cảnh quan chùa cho đến tạo không khí sinh hoạt tín ngưỡng, tu tập cho Phật tử đến chùa tụng kinh, lễ Phật. Ước mong của vị ĐĐ trẻ này là làm sao cho ngôi chùa là một điểm đến tâm linh của du khách khi hành hương Phan Thiết. Đặc biệt vào mùa nắng hạn, “con mắt xanh” của Phan Thiết như khép lại, để trơ một ngọn đồi khô khốc, nên việc trồng cây xanh quanh chùa là một việc làm thiết thực và khẩn cấp.

Ngày nay, khi nhắc đến nhóm di tích Lầu Ông Hoàng, người ta không thể không nhắc đến ngôi chùa Bửu Sơn. Tuy nhiên, để ngôi chùa thực sự là một điểm đến của du khách, thiết tưởng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh cần phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Bình Thuận tôn tạo lại cảnh quan ngôi chùa cổ “ngự tứ”, nhất là việc xin phép dựng lại pho tượng Quan Âm đã bị đổ nát trên đỉnh đồi để khu di tích bớt lạnh lẽo và hoang phế thêm.
Chùa Pháp Võ - Một thắng cảnh đẹp của Bình Thuận
Nằm trên hệ thống núi đá thuộc xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong, cách thị trấn Liên Hương khoảng 12 km về hướng bắc, chùa Pháp Võ (thường gọi chùa Đá Mẹp) là danh lam thắng cảnh của huyện Tuy Phong.
Đây còn được xem là nơi linh thiêng của các tín đồ Phật giáo và họ thường xuyên đến cúng lễ, cầu nguyện vào các ngày lễ, rằm và mồng một. Ngày Tết và các ngày rằm lớn, rất đông khách hành hương đến từ Phan Thiết, Phan Rang và cả TP.HCM... Điều thuận lợi xe vào tận chân núi, chỉ cần đi bộ leo núi đá khoảng 10 phút tới hang Tổ. Tuy vậy nhưng chưa có sử sách hoặc báo chí viết về chùa này, có lẽ vì nơi đây vẫn còn là vùng sâu, vùng xa, ít ai biết đến.
Vào đến Khu du lịch Tắm khoáng - tắm bùn của Công ty cổ phần Nước khoáng Vĩnh Hảo, nhìn xa xa về hướng tây trên đường vào chùa, chúng ta thấy rõ hệ thống núi đá trùng điệp như trong tranh vẽ và phim Tây Du Ký vậy. Cảnh vật nơi đây thật là “sơn thủy hữu tình”. Hai bên đường vào chùa là khu rừng thưa, cây nhỏ, nhưng có các loài hoa rừng tuyệt đẹp.
Chùa Pháp Võ không lớn, nhưng cảnh vật xung quanh thật thơ mộng và hùng vĩ, các tảng đá lớn, nhỏ chồng lên nhau tạo thành các hang đá tuyệt mỹ. Hang đá lớn nhất dùng để thờ Phật Tổ Như Lai, kế bên hang Tổ có phòng khách và phòng ngủ rộng thênh thang, tha hồ mắc võng. Bên chánh điện thờ Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm và Tam Tạng, có miếu thờ Quan Công và các hang đá nhỏ hơn thờ các vị thần khác nhau. Trước và bên hông chùa có tượng Phật Bà Quan Âm đứng lớn. Đi bộ qua hang đá hẹp, leo lên độ cao trên 100m có tượng Phật Bà Quan Âm đứng sừng sững giữa lưng chừng núi, trên một tảng đá lớn, cao gần 10 m. Đứng trên chánh điện và hang Tổ nhìn ra biển Cà Ná, đảo Cù Lao Câu một màu xanh biếc thật tuyệt vời. Nếu chúng ta có dịp nghỉ lại qua đêm thú vị hơn nữa. Màn đêm buông xuống giữa khu rừng già có ánh điện lung linh của máy nổ như một hòn ngọc lạc giữa chốn sơn lâm. Ngồi bên hang Tổ nhìn ra biển, vị sư già trụ trì chùa sẽ cho chúng ta thưởng thức món trà xanh tuyệt hảo, ai có bệnh thì sẽ được bốc thuốc nam biếu không lấy tiền. 21 giờ tất cả cùng ngồi thiền với vị sư già để chiêm ngưỡng và hòa quyện tâm hồn vào núi rừng thiêng âm u, tĩnh mịch… Theo vị sư này thì có truyền thuyết rằng, ngày xưa có lúc bị hạn hán nặng, người dân đã tụ họp về đây rất đông để làm lễ cầu mưa. Đang lúc làm lễ thì bất ngờ mây đen kéo đến rợp trời, một cơn mưa như trút nước làm nức lòng dân, vì vậy xa xưa chùa này có tên là Pháp Vũ, sau đổi thành Pháp Võ.
Cây đèn 'vùng biển chết'
Nếu tính đúng tuổi của cây đèn biển Kê Gà, tỉnh Bình Thuận, thì nay đã
lên “lão” - 112 năm. Ấy là chiểu theo tấm đá hoa cương khắc năm 1899 chứ
thật ra ngọn hải đăng này đã được khánh thành trước đó một năm.
Khi
đưa tôi vượt qua eo biển sóng để lên đảo đá Kê Gà, anh Huy Khánh, Giám
đốc Công ty Bảo đảm Hàng hải khoe rằng, đây là cây đèn biển vào loại cổ
nhất, cao nhất và đẹp nhất nước.
Cổ
nhất ắt khỏi nói rồi; còn cao nhất, 65m tính từ mặt biển tới tâm đèn,
hẳn cũng chưa có gì là ghê; nhưng nói đẹp nhất thì anh khẳng định, đây
là tháp đèn có một không hai, được xây bằng đá hoa cương, mà mỗi viên đá
đều có một bản vẽ kỹ thuật riêng. Công việc thiết kế kỹ đến mức, hàng
trăm tảng đá lớn nhỏ khác nhau được kiến trúc sư người Pháp, Snavat mang
từ Pa-ri sang, cứ theo bản vẽ mà chồng cao dần
lên khít khìn khịt, theo hình bát giác. Nhìn xa ngỡ thân tháp hình trụ,
càng lên cao càng nhỏ, được lắp ghép cao tới 41,5m và để gắn kết giữa
các phiến đá bằng chất liệu gì đến hiện giờ vẫn còn là điều bí ẩn.
Khi
bước lên cầu thang xoáy trong lòng tháp đèn, anh Khánh còn dặn tôi nhớ
đến bậc thứ 183 hãy chụp ảnh xuống thì mới thấy cái độ xoáy chóng mặt
của chiều cao và tất nhiên anh còn nói cho hay rằng, chắc chắn bức ảnh
ấy sẽ đẹp mê hồn vì sự sống động của nét bay bổng trong một không gian
hẹp. Theo lời anh, đến đúng bậc 183, tôi ngẩn
người nhìn xuống và nhận ra rằng, ông giám đốc này thật gắn bó với nơi
đây và rất yêu công việc của mình. Lẽ dĩ nhiên, tôi thở dốc mặc dù đã
phải dừng chân ở hai chiếu nghỉ, anh Huy Khánh cũng vã mồ hôi, chỉ có
anh Nguyễn Văn Sáu, đội trưởng ở đây mới còn sức nhoẻn cười. Nhìn khuôn
mặt khắc khổ của anh Sáu mà tôi cảm phục, bởi tính ra anh đã xa quê Bình
Định và theo đuổi công việc này, nay đây mai đó, đã tròn 30 năm. Vậy
đó, tôi nghe kể hằng ngày, anh cũng như mọi nhân viên của trạm, phải lên, xuống tháp 4 lần để làm việc. Không chóng mặt mới lạ.
Cùng
nhau đứng trên tầng cao nhất để kiểm tra đèn biển, anh Sáu báo cáo luôn
công việc trong cả một mùa đèn bị sét đánh với giám đốc của mình. Câu
chuyện mọi người đã phải chạy trốn để tránh sét trong đêm mưa dông như
thế nào, mới hay những người gác đèn biển ở đây mùa nào “thức nấy” đều
ngay ngáy lo toan đến tính mạng. Ăn cùng sét, ngủ cùng sét và uống cùng
sét. Ấy là mùa mưa. Nhưng ngược lại đến mùa khô, lại kiệt nước mưa cùng
với cái nắng cháy đến bong da cùng biển mặn. Riêng vào mùa bão, đội
trưởng Sáu kể, cứ đúng giờ, mưa mặc mưa, gió mặc gió, anh em vẫn phải
trầm mình trong bão tố để bật sáng ngọn đèn cho biển cả. Mắt biển mà. Đã
trăm năm không ngủ. Tất cả hướng ra biển khơi. Những chớp sáng loé lên
xuyên màn đêm và mây mù, chiếu xa tới 40km, trở thành những tín hiệu
trong lành của con người. Gương mặt khắc khổ, dạn dĩ của anh Sáu luôn
luôn đỏ au vì hơi biển. Đôi mắt anh không bao giờ tỏ ra mỏi mệt trong
những đêm thức cùng biển cả.
Lúc
này, trong luồng gió cuồn cuộn từ biển thổi lồng lộng, những ngọn sóng
vỗ ào ạt liên hồi vào đảo đá, tôi bỗng nghe thấy từ đâu đó tiếng còi tàu
rúc lên như một lời chào, như một lời tri ân hẹn hò, tìm bạn. Khoảng
gần một giờ đồng hồ kiểm tra và trao đổi công việc, anh Huy Khánh còn
cho xác định lại những thông số kỹ thuật chuẩn của ngọn đèn, để lập một
biểu đồ đưa lên website. Tôi bấm vội vài kiểu ảnh
rồi hẹn mail cho anh kịp đưa vào bản tin của website. Nhưng đột nhiên
tôi quay lại hỏi anh Sáu:
- Vì sao phải dựng cây đèn biển ở đây hả anh?
Không cần nghĩ ngợi anh chỉ tay cho tôi nhìn về phía biển rồi nói:
-
Nếu có ống nhòm, anh có thể nhìn thấy một thùng phao cách đèn biển này
khoảng 4 dặm. Ở đó chúng tôi đánh dấu một “vùng biển chết”. Trên phao
cũng có một ngọn đèn thắp sáng suốt ngày đêm.
- Vùng biển chết?!
Tôi
chợt thốt lên vì ngạc nhiên thì anh Huy Khánh cho hay, đó là nơi có
sóng xoáy ngầm rất lớn. Nhìn bề mặt biển phẳng lặng chỉ có người đi biển
có kinh nghiệm mới nhận biết được để tránh nguy hiểm. Nhưng thường
trong những lúc thời tiết xấu, tàu thuyền qua lại không thể phát hiện
nếu không căn cứ toạ độ của cây đèn biển Kê Gà luôn luôn phát sáng trong
đêm tối. Từ xưa tới nay hàng trăm vụ đắm tàu thuyền đã xảy ra tại vùng
biển chết này. Những cuộc khảo sát cùng với những thống kê hàng hải
trong hàng trăm năm qua mới thấy việc dựng ngọn hải đăng tại mũi Kê Gà
này là quan trọng biết chừng nào. Trong đêm, căn cứ vào toạ độ ngọn đèn,
các tàu thuyền xác định được mình đang ở vị trí nào, phải đi về hướng
nào để tránh nguy hiểm, tránh vùng biển chết và đá ngầm.
Tháng
tám, mưa bất chợt, sóng biển động vì vẫn còn bị ảnh hưởng một cơn bão
xa. Cả ba chúng tôi vội vàng đi xuống vì anh Sáu đã hoàn thành tất cả
những công việc trong ca trực của mình. Lấp ló phía xa, những tia nắng
nhỏ nhoi khuất dần sau đám mây dày đặc. Cả hai giục tôi xuống nhanh bởi
nếu không chỉ trong khoảng khắc nào đó những tia sét lại xối xả bắn tỉa
vào cột thu lôi trên đỉnh tháp. Khi đó chúng tôi không ra tro thì cũng
bị tiếng sét dữ tợn quật ngã trên sàn như những con cá trên biển vậy.
Xuống dưới chân tháp chúng tôi mới thở phào nhẹ người, thấy tôi vẫn còn thở gấp, đội trưởng Sáu cười và nói an ủi:
- Nhà báo thế còn khỏe đó. Chúng tôi phải lên xuống hàng ngày còn thấy mệt nữa là.
Tôi
cố gắng nhếch mép cười để xoá tan đi sự căng thẳng. Anh đội trưởng vừa
mở cửa tháp định đi ra thì một làn mưa xối thẳng vào rát mặt. Lát sau,
cả ba chúng tôi cùng quay ra ngôi miếu phía sau tháp để thắp hương cho
những người đã ngã xuống vì ngọn tháp này. Theo như anh Sáu kể thì đây
là ngôi miếu thờ hơn 80 người đã bị tai nạn trong hai năm xây dựng tháp
từ tháng 2-1897 đến cuối năm 1898. Theo thông lệ cứ vào ngày rằm hoặc
đầu tháng là anh em trong trạm đến thắp hương cho những người quá cố.
Vậy mà đã hơn 110 năm, những con người đã ngã xuống để thắp ngọn đèn
biển chiếu sáng hàng đêm để cảnh báo và cứu sống con người. Họ đã chết
đi cho những người sống mãi trên biển khơi này. Giờ đây anh Sáu cùng
đồng đội tiếp sức sống cho mặt biển. Đó là những cái tên Huỳnh Kim
Trung, Đậu Văn Côi, Lương Hữu Phúc, Nguyễn Thanh Chương và Đinh Quang
Tám, những người đã gắn bó với nhau cả chục năm qua trên đảo đèn.

Tác giả (giữa) chụp ảnh kỷ niệm cùng đội đèn biển Kê Gà
Qua
ngọ. Trời ngớt mưa, mây vẫn còn u ám. Nhìn hàng cây sứ già cỗi, dễ cũng
đến trăm năm tồn tại xanh tốt cùng gió biển, lòng tôi thấy nôn nao vì
sự tồn tại bền bỉ của cuộc sống với thời gian. Anh Sáu khoát tay chỉ về
phía hàng cây là một sân bóng chuyền rồi kể rằng, ở cạnh đó anh em trong
trạm sẽ đào và xây một ao nuôi cá nước ngọt. Thật là một ý nghĩ lãng
mạn. Mà không phải là ý nghĩ nữa. Họ đã làm và đang kè lại và mong trời
mưa tràn đầy cái ao nhỏ bé trên cái đảo đá cô quạnh này. Đây đó là một
chậu cây tạo dáng con ngựa, tạo dáng con rồng... Tất cả đều toát lên
những giấc mơ bay cao trong hòn đảo không có người, trên toạ độ của vùng biển chết này.
Mới
đây, theo như anh Huy Khánh kể lại, gần 100 thành viên của Vina Game đã
tổ chức một cuộc thi bơi từ đất liền ra đảo Kê Gà để đáp lại sự thách
thức của biển cả và để chia sẻ với cuộc sống quanh năm khó khăn của
những người gác đèn biển. Đó là những bạn trẻ đến từ Mỹ, Hàn Quốc,
Philippines, Trung Quốc cùng với các thành viên Việt Nam bơi vượt sóng
biển hàng trăm mét để được đến bên chân đèn biển. Thật là một trò chơi
gay go và hấp dẫn biết bao. Nhắc lại cuộc đua thú vị này, anh Sáu xởi
lởi nói:
- Họ thật lạc quan khi vui chơi bên toạ độ này. Họ cùng với chúng tôi thách thức với biển cả. Thật đã quá ! Ha !
Đúng
vậy để đến với ngọn đèn hơn trăm năm toả rạng, các bạn trẻ tràn qua cồn
cát trắng mịn của Bãi Môn, để vượt biển. Anh Sáu hào hứng nhắc lại câu
chuyện rồi nắm tay tôi dặn dò:
-
Vậy nhé! Hẹn gặp lại một ngày nào đó trở lại với chúng tôi ở cái toạ độ
biển chết này. Và xin nhớ, nơi đây có một con mắt biển trăm năm, toả
sáng xuyên hai thế kỷ...
Tôi chia tay mọi người, rồi vội ghi lại địa chỉ chi tiết của Trạm hải đăng Kê Gà: xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam,
tỉnh Bình Thuận. Nét chữ tôi run rẩy, bởi trong lòng xốn xang với con
mắt biển, và mong có một ngày sẽ quay về với đảo đèn ngập tràn sóng gió
này.
Xem bộ xương cá Ông lớn nhất Đông Nam Á
Bộ cốt cá Ông được lưu giữ tại dinh Vạn Thủy Tú, Phan Thiết dài 22m, nặng 65 tấn được đánh giá là lớn nhất Việt Nam và cả Đông Nam Á.
Toạ
lạc trên đường Ngư Ông, thành phố Phan Thiết, dinh Vạn Thuỷ Tú là một
di tích có từ lâu đời (1762) với vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm, là biểu
tượng của tín ngưỡng thờ cá Ông của ngư dân Bình Thuận. Nơi đây còn là
nơi lưu giữ bộ xương cá Ông lớn nhất Việt Nam và cả Đông Nam Á.
Truyền
thuyết dân gian kể lại rằng sau khi xây xong, Dinh Vạn có một Ông rất
lớn trôi dạt vào bờ phía trước Dinh. Ngư dân trong bổn Vạn và các bổn
Vạn khác được huy động để đưa Ông vào mai táng trong khuôn viên của Dinh
Vạn thủy Tú. Vì Ông quá lớn (dài 22m, nặng 65 tấn) nên phải đến 2 ngày
sau mới đưa Ông vào bờ để mai táng được.
![]() |
Bộ xương cá Ông có kích thước khổng lồ với chiều dài 22m, nặng 65 tấn.
|
![]() |
Bộ xương cá Ông được phục dựng, đặt trên khung inox kiên cố, bên trên mô hình con thuyền lớn.
|
Xuất
phát từ tín ngưỡng cá Ông cứu thoát ngư dân thoát nạn nơi biển cả, ngư
dân tôn cá Voi làm ông Nam Hải, vị thần phù trợ người đi biển, gắn liền
với nhiều truyền thuyết. Ngày nay, dọc khắp các tỉnh ven biển miền
Trung, hầu như nơi nào cũng có đền thờ cá Ông.
Xưa biển Thánh, Ngài quảng sai tế độ
Nay siêu Thần, Ngài về chốn miếu môn
Từ
thế kỉ XVII, những ngư dân ở các tỉnh miền Trung tới Phan Thiết để khai
phá vùng đất mới, theo truyền thống của cư dân biển họ lập ra các vạn
chài theo từng nhóm, làng Thuỷ Tú ra đời cùng với ước vọng một vạn chài
trù phú.
Dinh
Vạn Thuỷ Tú là ngôi đền được xây dựng lâu đời với kiến trúc khá đặc
biệt, qua cổng tam quan về phía hữu là nhà trưng bày cốt ông Nam Hải.
Hương
án chính giữa đình Vạn Thuỷ Tú thờ Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân tôn thần;
bên trái thờ Thuỷ Long thánh phi nương nương tôn thần và bên phải thờ
Thái hiệu tiên sư tôn thần. Phía sau là phòng lưu trữ bảo tồn những bộ
cốt cá voi.
Theo
ngư dân Bình Thuận, cá Ông là vị thần cứu giúp ngư dân mỗi khi gặp tai
nạn trên biển, và là vị thần chung thủy với ngư dân nên được ngư dân
kính yêu và tôn trọng. Mỗi khi cá Voi chết (luy) dạt vào bờ, ngư dân đầu
tiên trông thấy được coi là con trai của ông và phải đứng ra làm tang
lễ, chôn cất cẩn thận.
![]() |
Miếu thờ Nam Hải
|
![]() |
Bàn thờ Nam Hải Cự Tộc, tước hiệu của cá Ông do vua Khải Định phong tặng.
|
![]() |
![]() |
Ngoài
bộ xương cá Ông khổng lồ, dinh Vạn Thủy Tú còn lưu giữ trên 100 bộ
xương cá voi lớn, nhỏ khác, trong đó có những bộ có niên đại trên 150
năm.
|
![]() |
Phía
hữu là doi đất rộng để mai táng cá ông gọi là Ngọc Lân Thánh Địa, sau 3
năm cốt của cá ông bốc, rửa sạch và nhập tẩm trong dinh Vạn theo nghi
thức trang trọng.
![]() |
Ngọc
Lân Thánh địa, hay còn gọi là nghĩa trang cá Ông nằm trong khuôn viên
dinh.Càng ngày, khu dân cư càng đông đúc, nên chỉ có cá Ông dài 2m mới
đem chôn trong khuôn viên thánh địa.
|
Năm
2003 bộ cốt Ông được viện Hải Dương học Nha Trang phục chế và bảo quản
tại nhà bảo tàng của dinh. Đây được coi là bộ cốt lớn nhất Việt Nam và
cả vùng Đông Nam Á vẫn còn nguyên vẹn đến nay.
Hàng
năm tại Dinh đều diễn ra các kì tế lễ được tổ chức trang trọng vào các
ngày âm lịch: 20/2 (Tế Xuân); 20/4 (Cầu ngư); 20/6 (Chính mùa); 20/7
(Chèo dọc) và 23/8 (Mãn mùa) trong quá trình diễn ra nghi lễ còn có các
hoạt động như hát bội, diễn bã trạo. hội đua ghe...
![]() |
Dinh Vạn Thủy Tú là một trong những Dinh Vạn lớn và cổ xưa nhất của nghề biển ở Bình Thuận.
|
Không
chỉ là nơi thờ tự thủy tổ nghề biển, nơi đây còn lưu giữ nhiều hiện vật
có giá trị liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển cộng đồng cư
dân nghề cá tiêu biểu là 24 sắc phong của các đời vua triều Nguyễn ban
tặng, chiếc chuông đồng đúc vào năm Nhâm Thân (1872), đến nay đã được
130 năm; thân chuông có dòng chữ "Tự Đức nhị thập ngũ niên - Xuân quý
giáo đáng - Thuỷ Tú Vạn - Bổn Vạn đồng ký".
Năm 1996, Vạn Thủy Tú được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Ngày
nay con đường và bến cá trước dinh được đặt tên Ngư Ông như để thể hiện
niềm tôn kính của ngư dân vào sự phù trợ của ông Nam Hải, cũng như sự
gắn bó giữa Ông Nam Hải với ngư nghiệp địa phương.
Cùng chiêm ngưỡng bộ xương cá Ông:
![]() |
![]() |
Các đốt xương vây
|
![]() |
![]() |
Bạn sẽ trầm trồ khi biết mình đang chiêm ngưỡng bộ xương cá Ông lớn nhất Đông Nam Á.
|
Kỷ lục Bình Thuận: Đầu rồng thanh long trên 100 tuổi
Đầu của con rồng màu xanh (thanh long) rồng trong lễ hội Nghinh Ông
của thành phố Phan Thiết đến nay đã trên 100 tuổi! Câu chuyện trên có vẻ
khó tin song đó là sự thực!
Đọc Tiếp...…
Theo
ông Tô Bữu Đạt - trưởng ban Quan Đế Miếu (Phan Thiết) cho hay, những
năm cuối thế kỷ 17, người Hoa đến Bình Thuận định cư. Sau khi ổn định
cuộc sống, họ bắt đầu xây dựng chùa, miếu, hội quán… thiết lập tín
ngưỡng, duy trì văn hóa. Các hội quán: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc
Kiến, Hải Nam… là nơi thờ tổ tiên, cũng là nơi nương tựa về mặt tinh
thần của người Hoa những ngày đầu sang Việt Nam. Năm 1778, Quan Đế Miếu
(nay chùa Ông) được xây dựng.
Sau khi xây Quan Đế Miếu xong, lễ hội Nghinh Ông hình thành, đáo lệ 2 năm 1 lần, vào tháng 7 của năm chẵn. Theo tín ngưỡng có lễ hội thì phải có rồng, biểu tượng cho sự may mắn, bình an… Rồng thanh long màu xanh lá cây dài 49 mét làm bằng mây và tre, gồm 1 đầu, 15 sườn bụng, 3 sườn đuôi. Đầu rồng to và trái châu hình quả cầu được làm bằng mây, bởi mây vừa cứng bền vừa dẻo.
Tổng cân nặng đầu rồng là 60kg. Đầu rồng và trái châu hiện nay là đầu rồng của ngày xưa để lại, đã trên 100 tuổi. Mỗi lần đến hội Nghinh Ông, những người trong đội múa rồng thường mang đầu rồng ra sơn phết lại, hoặc bọc vải mới nhưng khung đầu rồng thì vẫn giữ nguyên. Bình thường rồng được tháo ra thành nhiều bộ phận rời. Khi chuẩn bị múa, thì mất 2 ngày lắp ráp rồng.
Để thực hiện chương trình múa rồng cần 150 người, có 120 vũ công múa luân phiên, số người còn lại biểu diễn cờ, trống, nhạc cụ
Sau khi xây Quan Đế Miếu xong, lễ hội Nghinh Ông hình thành, đáo lệ 2 năm 1 lần, vào tháng 7 của năm chẵn. Theo tín ngưỡng có lễ hội thì phải có rồng, biểu tượng cho sự may mắn, bình an… Rồng thanh long màu xanh lá cây dài 49 mét làm bằng mây và tre, gồm 1 đầu, 15 sườn bụng, 3 sườn đuôi. Đầu rồng to và trái châu hình quả cầu được làm bằng mây, bởi mây vừa cứng bền vừa dẻo.
Tổng cân nặng đầu rồng là 60kg. Đầu rồng và trái châu hiện nay là đầu rồng của ngày xưa để lại, đã trên 100 tuổi. Mỗi lần đến hội Nghinh Ông, những người trong đội múa rồng thường mang đầu rồng ra sơn phết lại, hoặc bọc vải mới nhưng khung đầu rồng thì vẫn giữ nguyên. Bình thường rồng được tháo ra thành nhiều bộ phận rời. Khi chuẩn bị múa, thì mất 2 ngày lắp ráp rồng.
Để thực hiện chương trình múa rồng cần 150 người, có 120 vũ công múa luân phiên, số người còn lại biểu diễn cờ, trống, nhạc cụ
Thăm những pho tượng lớn nhất Việt Nam
Dù được tạc bằng đá, đúc bằng đồng hay bê tông, những pho tượng này vẫn tạo nên ấn tượng khó quên cho du khách.
Đọc Tiếp...…
Pho tượng nằm dài nhất
Với
chiều cao 13m, dài 49m, tượng Phật Thích ca nhập niết bàn với thế nằm
nghiêng gối đầu lên tay, mặt quay về hướng Nam, toạ lạc trên đỉnh núi Tà
Cú là bức tượng phật nằm dài nhất Việt Nam và Đông Nam Á. Tượng do kiến
trúc sư Trương Đình Ý xây dựng từ năm 1959 và hoàn thành năm 1962.
Có
hai cách để lên đỉnh núi chiêm bái tượng là đi bộ hoặc cáp treo. Mỗi
cách sẽ mang lại cho bạn một ấn tượng, song nếu có thể nên kết hợp là đi
lên bằng cáp, đi xuống bằng bậc thang. Ngoài tượng Phật nằm, du khách
còn có thể chiêm bái các bức tượng khác thuộc ngôi cổ tự Linh Sơn Trường
Thọ (cũng trên đỉnh núi), hay trải nghiệm chuyến khám phá các truyền
thuyết kì bí của hang Tổ.
Pho tượng bằng đồng nặng nhất
![]() |
Danh
hiệu này thuộc về pho tượng Thích Ca Mâu Ni bằng đồng nguyên khối dát
vàng, cao 10m, nặng 100 tấn ở chùa Bái Đính, xã Gia Sinh, Gia Viễn -
Ninh Bình, và đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận
kỷ lục “Pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam”.
Pho
tượng này do các nghệ nhân đúc đồng thôn Thượng Đồng, xã Yên Tiến,
huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đúc, được đỡ bởi khung bê tông cốt thép giả
gỗ cao đến nóc gần 30 m, dài 44,7 m, rộng 43,3m.
Ngoài
kỷ lục nói trên, trung tâm này cũng xác nhận nhận hàng loạt các danh
hiệu kỷ lục khác cho chùa Bái Đính như Bức tượng Phật Di Lặc bằng đồng
lớn nhất, bộ tượng A Nan - Ca Diếp bằng đồng lớn nhất (mỗi tượng nặng 30
tấn, cao 9m, đặt tại điện thờ Giáo chủ Thích ca Mâu ni), chuông đồng
lớn nhất (nặng 30 tấn), giếng Ngọc lớn nhất (đường kính 35m), tượng ông
Thiện và ông Ác bằng đồng cao và nặng nhất (đặt nơi cổng tam quan chùa
Bái Đính, mỗi pho nặng 20 tấn, cao 5,2m), tượng Quan Thế Âm thiên thủ
thiên nhãn bằng đồng dát vàng lớn nhất (nặng 80 tấn, cao 9,57m tính cả
bệ), bộ tượng Tam thế bằng đồng lớn nhất (mỗi pho nặng 50 tấn). Đây còn
là ngôi chùa lớn nhất và có nhiều tượng nhất Việt Nam.
Pho tượng bằng đá lớn nhất
![]() |
Đại
Phật tượng bằng đá cao 27m, nặng 3.000 tấn đặt trên đỉnh núi đầu tiên
phát tích đạo Phật ở Việt Nam (núi Phật tích, Bắc Ninh), được xem như kỳ
quan mới trên quê hương của các vua Lý. Tượng được tạc dựa trên nguyên
mẫu tượng A Di Đà, là một trong những bảo vật từ thời nhà Lý.
Chùa
Phật Tích còn là di tích lịch sử văn hóa quốc gia và là di tích tiêu
biểu nhất chứa đựng các giá trị văn hóa, mỹ thuật thời Lý. Ngoài hai bức
tượng phật A Di Đà bằng đá có từ thời Lý và Đại Phật tượng mới xây
dựng, đây còn là nơi lưu duy nhất lưu giữ những linh thú với 5 cặp đối
xứng là sư tử, voi, ngựa, trâu, tê giác vốn là các di vật của đời Lý.
Tượng Phật bà Quan Âm cao nhất
![]() |
Ngoài
việc được biết đến như một ngôi chùa đẹp, lớn và… trẻ nhất trong 3 ngôi
“Linh Ứng Tự” ở Đà Nẵng, Linh Ứng Bãi Bụt nằm ở lưng chừng núi Sơn Trà
còn được biết đến với tên nơi có tượng Phật Quan Thế Âm cao nhất Việt
Nam.
Pho
tượng Phật bà Quan Âm ở đây cao 67m, đường kính toà sen 35m do điêu
khắc gia Thụy Lam và điêu khắc gia Châu Viết Thạnh thi công trong 5 năm.
Tượng
đứng tựa lưng vào núi, hướng ra biển, một tay bắt ấn tam muội, tay kia
cầm bình nước cam lồ như rưới an bình cho những ngư dân đang lênh đênh
trên biển kiếm sống.
Trên
mũ tượng Quan Âm có tượng Phật Tổ cao 2m. Trong lòng tượng có 17 tầng,
mỗi tầng đều có bệ thờ tổng cộng 21 bức tượng Phật với hình dáng, vẻ
mặt, tư thế khác nhau, gọi là “Phật trung hữu Phật”.
Đến
đây, ngoài chiêm bái công trình, từ vị trí của tượng, du khách còn
chiêm ngưỡng vẻ đẹp khác của Đà Nẵng, với phía trước là vịnh Đà Nẵng đẹp
như tranh, bên phải là một phần bán đảo Sơn Trà trầm mặc, xa xa là Ngũ
Hành Sơn, Cù Lao Chàm bềnh bồng trong mây. Bạn cũng có thể tham gia khám
phá núi rừng nguyên sinh của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà phía sau
chùa.
Tượng chúa Giê Su lớn nhất
![]() |
Được
xem là một phiên bản của bức tượng Đức Chúa dang tay tại thành phố Rio
de Janeiro, với chiều cao 32m, sải tay 18,3m, tượng Chúa Giê Su trên
đỉnh Núi Nhỏ (Vũng Tàu) được đánh giá là bức tượng chúa lớn nhất Việt
Nam và thế giới.
Tượng
Chúa cao 176m so với mực nước biển và đặt trên một bệ bê-tông có bốn
góc tạo hình cánh cung cao 10m. Mặt trước bệ được trang trí bằng bức phù
điêu phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của danh họa Ý Leonardo da Vinci
“Bữa tiệc ly”. Mặt sau là bức tranh “Chúa trao chìa khóa cho thánh
Phêrô”.
Bên
trong tượng có cầu thang xoắn ốc đi từ chân tượng lên tới đỉnh. Lòng
tượng được chiếu sáng nhờ hệ thống cửa sổ hình chữ “Thọ” trang trí trên
áo.
Một cầu thang gồm 133 bậc tam cấp trong lòng tượng dẫn du khách lên tận cánh tay của tượng Chúa. Hai bên vai và tay áo tượng được thiết kế như hai ban công với sức chứa khoảng 6 du khách mỗi bên.
Đứng tại đây, du khách có thể ngắm bờ biển Vũng Tàu xanh ngát hay tận hưởng những ngọn gió biển mát rượi. Hai bàn tay tượng Chúa Kitô dài tới 2,2m, ngón giữa dài 1,1m có 9 tia hào quang làm bằng kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi.
Một cầu thang gồm 133 bậc tam cấp trong lòng tượng dẫn du khách lên tận cánh tay của tượng Chúa. Hai bên vai và tay áo tượng được thiết kế như hai ban công với sức chứa khoảng 6 du khách mỗi bên.
Đứng tại đây, du khách có thể ngắm bờ biển Vũng Tàu xanh ngát hay tận hưởng những ngọn gió biển mát rượi. Hai bàn tay tượng Chúa Kitô dài tới 2,2m, ngón giữa dài 1,1m có 9 tia hào quang làm bằng kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi.
Tượng gà lớn nhất Việt Nam
![]() |
(Ảnh: Vietnamnet)
|
Với
những chỉ số ấn tượng, bức tượng gà trống bằng bê tông đang vươn cổ gáy
cao 3,2m, nặng khoảng 8 tấn giữa làng K’Long, thôn Darahoa, xã Hiệp An,
huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng được xem là pho tượng con vật lớn nhất
Việt Nam
Bức
tượng khổng lồ này được thiết kế và xây dựng từ năm 1978 đến năm 1979
do kiến trúc sư Lữ Trúc Phương thiết kế, nhà điêu khắc Thụy Lam tạc
tượng, Sở Thủy lợi Lâm Đồng thi công. Ý tưởng xây tượng con gà xuất phát
từ đề tài cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Bí ẩn trong những ngôi mộ cổ ở Mũi Né
Ngày 15/9/2004 Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận có Quyết định số
4016/QĐ-CT.UBND, về việc thu hồi và cho Công ty TNHH Biển Vọng thuê đất
để xây dựng khu du lịch Biển Vọng tại khu phố 13 phường Mũi Né.
Đọc Tiếp...…
Quá
trình triển khai dự án để làm thủ tục giao đất, đã phát hiện trong khu
đất có 5 ngôi mộ cổ. Trong phạm vi khu mộ, mộ này cách mộ kia một khoảng
không xa lắm, từ 7 - 20m, đất cát phủ đầy mộ do thời gian, không còn
nhìn thấy phần kiến trúc cụ thể từng ngôi mộ. Các ngôi mộ cũng không còn
nguyên hình dáng kiến trúc ban đầu, phần thì do thời gian, phần bị đập
phá và có mộ bị đào trộm từ hai bên hông hoặc từ hướng chân vào.
Có những vết xích và vết xước của máy ủi đã tác động lên mộ.
Có những vết xích và vết xước của máy ủi đã tác động lên mộ.
Theo
lời kể của một số cụ già đã từng sinh sống gần khu vực này, khi lớn lên
họ đã thấy khu mộ hoàn toàn bỏ hoang phế, không ai quản lý, không ai
trông nom và thờ cúng. Chỉ có những người sống lân cận, vì thấy những
ngôi mộ gần nhà, nên thỉnh thoảng cũng có nén nhang tưởng niệm những
vong linh xưa.
| Khai quật mộ cổ ở Mũi Né. |
Để
làm rõ nguồn gốc, lai lịch của khu mộ cổ truớc khi khảo sát, nghiên
cứu, khai quật và di dời 5 ngôi mộ cổ, những cứ liệu dù là nhỏ nhất đã
được xúc tiến, trước hết bằng việc tìm những chữ Hán trên mộ. Nhưng
không thể, vì các chữ đã bị bào mòn qua năm tháng. Chứng tỏ những ngôi
mộ cổ này ở đây rất lâu. Một trong 5 ngôi mộ bị cây keo to lớn đã thành
cổ thụ mọc ngay thân mộ. Sức mạnh của bộ rễ đã ăn sâu và hất tung một
phần thể xây, làm biến dạng của ngôi mộ kiên cố.
Tìm hiểu nguồn gốc qua sự hiểu biết và truyền miệng trong nhân dân, một số người cho rằng: đó là mộ của người Tần trên 2.000 năm; có người cho là mộ Hời (người Chăm) và cũng có người cho rằng mộ của người Việt (Kinh)..
. Đó là những vấn đề không đơn giản, có nhiều rắc rối và phức tạp khi tìm hiểu chủ nhân của những ngôi mộ cổ và nguồn gốc tộc người ở khu vực này hơn 300 năm về trước.
Tìm hiểu nguồn gốc qua sự hiểu biết và truyền miệng trong nhân dân, một số người cho rằng: đó là mộ của người Tần trên 2.000 năm; có người cho là mộ Hời (người Chăm) và cũng có người cho rằng mộ của người Việt (Kinh)..
. Đó là những vấn đề không đơn giản, có nhiều rắc rối và phức tạp khi tìm hiểu chủ nhân của những ngôi mộ cổ và nguồn gốc tộc người ở khu vực này hơn 300 năm về trước.
Khi
không thể tìm thêm nguồn thông tin nào khác thì công việc khai quật vẫn
phải tiến hành để di dời đi nơi khác. Cả 5 ngôi mộ cổ lần lượt được
khai quật dưới sự chứng kiến của hàng trăm người dân đến xem mỗi ngày do
những lời bàn tán, đồn thổi. Mỗi ngôi mộ có một hình thù, kích thước
khác nhau. Mộ thì có hình con rùa to lớn trên nắp mộ, mộ thì có hình con
kỳ lân thay nấm mộ, mộ thì có hình con sư tử phủ phục trên mộ…
Hàng trăm năm bị đất cát vùi lấp có chổ cao gần 2m, do vậy phần nhìn thấy được chỉ là phần nổi trên cát rất nhỏ. Khi khaiquật hàng chục m3 đất cát vùi lấp bên trên, ngôi mộ dần hiện rõ mới thấy mỗi mộ là một công trình kiến trúc bề thế. Và chỉ có những tầng lớp hoàng gia quý tộc, những người giàu có quyền sang vương giả… mới xây được những ngôi mộ kiên cố, kỳ công, to lớn như vậy. Cả 5 ngôi mộ cổ đều được người xưa dùng hợp chất bao quanh ngôi mộ gồm các chất: vôi sống, vôi tôi, vỏ nghêu sò hay san hô nghiền vụn, cát, chất kết dính như đường, nhựa dây tơ hồng, ô dước, giấy gió, than hoạt tính… để đúc huyệt và bao kín toàn bộ bên ngoài, tạo nên bức tường thành kiên cố không thấm nước. Những khối hợp chất này rất đặc và chắc chắn, có độ dẻo lớn và dù đã lâu đời, dãi nắng dầm mưa nhưng độ cứng và bền không thua kém bê tông ngày nay.
Hàng trăm năm bị đất cát vùi lấp có chổ cao gần 2m, do vậy phần nhìn thấy được chỉ là phần nổi trên cát rất nhỏ. Khi khaiquật hàng chục m3 đất cát vùi lấp bên trên, ngôi mộ dần hiện rõ mới thấy mỗi mộ là một công trình kiến trúc bề thế. Và chỉ có những tầng lớp hoàng gia quý tộc, những người giàu có quyền sang vương giả… mới xây được những ngôi mộ kiên cố, kỳ công, to lớn như vậy. Cả 5 ngôi mộ cổ đều được người xưa dùng hợp chất bao quanh ngôi mộ gồm các chất: vôi sống, vôi tôi, vỏ nghêu sò hay san hô nghiền vụn, cát, chất kết dính như đường, nhựa dây tơ hồng, ô dước, giấy gió, than hoạt tính… để đúc huyệt và bao kín toàn bộ bên ngoài, tạo nên bức tường thành kiên cố không thấm nước. Những khối hợp chất này rất đặc và chắc chắn, có độ dẻo lớn và dù đã lâu đời, dãi nắng dầm mưa nhưng độ cứng và bền không thua kém bê tông ngày nay.
Ngôi
mộ cổ lớn nhất có kích thước dài 12m, rộng 8m, sau khi bóc xong lớp cát
bên trên trông như một ngôi nhà lớn của người đã khuất ở thế giới bên
kia. Ngôi mộ có các bộ phận kiến trúc: trụ đuốc thiên, bình phong (bình
phong tiền, bình phong hậu), bia mộ, sân tế, tường bao quanh nấm mộ… Tất
cả đều được trang trí điêu khắc tỉ mỉ, được lấp kỹ và chôn chặt nhiều
lớp đất.
Rút
kinh nghiệm từ những nơi khác, đề phòng trước khi chôn, người xưa tẩm
thuốc độc quanh huyệt đề phòng trộm cắp. Chúng tôi phải xử lý rất kỹ,
dùng các mũi khoan dài để khoan nhiều mũi vào bên trong huyệt mộ cho
thông hơi nhiều ngày mới khai quật. Nên việc xử lý hài cốt bên trong đảm
bảo vệ sinh và khoa học, trước khi đưa các cụ về nơi nghỉ mới.
Do
chôn ở đây đã quá lâu, khi khai quật cả 5 ngôi mộ cổ phía trong huyệt
ngập đầy nước, nên thi thể những người quá cố bị phân hủy nhanh chóng
theo thời gian. Không còn một bộ xương nào nguyên vẹn, phần lớn xương
cốt bị mủn nát và tan trong đất. Không thấy đồ tùy táng chôn theo người
chết. Thông thường những ngôi mộ cổ to lớn và kiên cố như vậy phải có
một số đồ tùy táng chôn theo. Cũng có thể đã bị bọn “mộ tặc” lấy hết
trước lúc khai quật hàng chục năm. Các mộ đều có dấu tích đào bới, xáo
trộn thậm chí bọn trộm còn đập nát phần bên hông huyệt mộ để tìm kiếm
những thứ chúng cần tìm.
Tuy
nhiên, dù không còn một bộ xương nào nguyên vẹn, không thấy đồ tùy táng
chôn theo người chết. Và dù dòng chảy thời gian có thể làm nhiều thứ
trên mặt đất đổi thay, nhưng những nắm xương tàn trong mộ sẽ kể lại bao
câu chuyện trung thực cho chúng tôi khi nghiên cứu. Trước hết, căn cứ
hợp chất được dùng xây mộ và hình thù nấm mộ như hình kỳ lân, hình bán
nguyệt, hình con rùa…cùng với các hạng mục khác, như trụ đuốc thiên,
bình phong, sân tế, văn bia và những hoa văn hình bông sen vốn có trong
truyền thống văn hoá của dân tộc, đều có trên mộ. Đây là nét kiến trúc
mộ táng tiêu biểu của người Việt cùng với sự có mặt rải rác ở các tỉnh
miền Trung của Việt Nam.
Căn
cứ hình dáng, cấu trúc, chất liệu của khu mộ cổ Mũi Né với khu mộ cổ
cùng thời ở tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh.
Chúng tôi xác định khu mộ trên ở thế kỷ XVIII. Qua khảo sát, nghiên cứu
và khai quật cùng với việc so sánh, đối chiếu chủ nhân của những ngôi mộ
cổ này là những người có chức quyền, vị thế trong xã hội hoặc những
người đứng đầu dòng tộc giàu có mới đủ sức xây dựng những ngôi mộ bề
thế, bền vững, quý phái như vậy.
Qua
khảo sát, nghiên cứu và khai quật đã xác định được việc xây dựng những
ngôi mộ hợp chất là nét kiến trúc mộ táng tiêu biểu và khá phổ biến của
người Việt ở thế kỷ XVII, XVIII. Bác bỏ sự hiểu nhầm, thông tin không
chính xác trong xã hội, nhất là nhân dân các xã, phường ven biển. Vì
những thông tin và cách nhận thức từ xưa đến nay cho rằng đó là mộ Tần,
mộ Hời, những cụm từ để ám chỉ những ngôi mộ trên là của người Chăm
hoặc người Trung Quốc xưa.
Dù
không còn một bộ xương nào nguyên vẹn, nhưng chúng tôi cùng Công ty
TNHH Biển Vọng vẫn phải đưa vào 5 tiểu sành để cải táng vào 5 phần mộ
mới và khắc bia cho các cụ đặt tại nghĩa trang Thiện Nghiệp, thành phố
Phan Thiết.
Vì
công việc nên chúng tôi phải thực hiện, nhưng rất chạnh lòng mỗi lần
đặt xuống mộ những nhát đục, cuốc vì cả một vấn đề tâm linh và đạo lý.
Đây là những ngôi mộ cổ thuộc dạng quý hiếm về kiểu dáng và kiến trúc
cũng như chất liệu tạo nên hợp chất xây mộ. Bản thân những ngôi mộ cổ là
những tác phẩm về kiến trúc nghệ thuật và là thành tựu của ông cha
chúng ta thời mở nước. Việc xây mộ thời trước rất tốn kém, việc chọn đất
xây mộ rất khó khăn và bản thân những ngôi mộ là mốc chủ quyền của dân
tộc mà tổ tiên ngầm báo với chúng ta. Nên trước lúc quy hoạch lấy đất
làm khu công nghiệp, khu du lịch hay bất cứ việc gì, xin những nhà quy
hoạch hãy tĩnh tâm nhìn trước, ngó sau để khỏi thất lễ với tổ tiên.
Nguyễn Xuân Lý
Thăm bảo tàng cá voi đảo Phú Quý
Vậy là sau gần 20 năm kể từ khi các nhà nghiên cứu di tích thuộc Bảo
tàng Bình Thuận lập hồ sơ khoa học, trình Nhà nước xếp hạng di tích cấp
Quốc gia vạn An Thạnh (thôn Triều Dương, xã Tam Thanh, Phú Quý) đã phát
hiện nhiều bộ xương cá voi, trong đó có một bộ lớn và đề xuất phục dựng
nguyên vẹn để tiện việc thờ cúng và tham quan của nhân dân.
Đọc Tiếp...…
Đến
nay dự án đã được tiến hành ở cả hai phần việc là xây dựng nhà trưng
bày và phục dựng thành công 6 bộ xương cá voi (1 bộ xương lớn cùng 5 bộ
vừa).
Nhà
trưng bày đã được xây dựng xong năm 2010, rút kinh nghiệm từ nhà trưng
bày bộ xương ở vạn Thủy Tú Phan Thiết, quá chật khi có lễ hội cầu ngư,
đội chèo bả trạo di chuyển xung quanh rất khó khăn. Nên nhà trưng bày ở
vạn An Thạnh được xây dựng lớn hơn, để đảm bảo cho lễ hội và công chúng
thưởng lãm lễ hội ngay trong nhà trưng bày.
Hiện
nay Viện Hải dương học Nha Trang đang tiến hành phục dựng đồng thời 6
bộ xương. Bộ xương lớn nhất là cá nhà táng thuộc họ cá voi, sau khi phục
dựng dài 15m; 3 bộ xương cá heo khác loài và hai bộ xương cá voi loại
nhỏ, dài khoảng 3m, ngư dân thường gọi là cá ông Chuông.
![]() |
| Bộ xương cá nhà táng ở vạn An Thạnh. Ảnh: Nguyễn Ngôn |
Theo
tài liệu nghiên cứu ở Viện Hải dương học, cá nhà táng thuộc họ cá voi
là loài động vật có vú (lớp Mammalia) sống ở biển, có kích thước to lớn,
thân nhiệt cao, thở bằng phổi, đẻ con và nuôi con bằng sữa. Cá voi và
cá heo rất thông minh và thân thiện với con người, nhiều nơi chúng đã
từng hợp tác với ngư dân để khai thác cá. Hiện nay, tại các nước tiên
tiến, cá heo được huấn luyện để cứu người ở những bãi tắm đông khách.
Cá
nhà táng (còn gọi là cá voi đầu to) thuộc bộ cá voi (Cetacea), bộ phụ
cá voi có răng (Odontoceti), họ cá nhà táng (Physeteridae). Chúng có
vùng phân bố rất rộng, từ vùng xích đạo đến Bắc và Nam bán cầu, kể cả
vùng biển Địa Trung Hải. Con mới sinh có chiều dài từ 3,5 - 4,5m, trọng
lượng khoảng 1 tấn. Con trưởng thành thường có chiều dài 15 -17m (nặng
khoảng 45 - 55 tấn), con lớn nhất được biết có chiều dài 18m nặng đến 57
tấn.
Cá
nhà táng có thể lặn lâu trong nước đến 50 phút hoặc hơn, khi ngoi lên
mặt nước để thở chúng thường phun ra cột nước cao 3 - 5m. Loài này có
thể lặn sâu đến hơn 1.000m, đã có trường hợp tìm thấy chúng lặn sâu đến
3.200m. Cá nhà táng có khả năng định vị bằng thính giác và âm thanh.
Cá
nhà táng đực rất hung dữ, chúng ăn những loài cá lớn, mực, cá đuối, cá
mập nhỏ... và khi bảo vệ đàn cái và con chúng có thể tấn công cả người
và tàu thuyền loại nhỏ trên biển. Tuổi thọ trung là 50 - 60 tuổi.
Cá
nhà táng là đối tượng kinh tế, trước đây từng bị săn bắt (ở một số
nước) để lấy dầu mỡ, nhưng ngày nay nhiều tổ chức quốc tế kêu gọi bảo vệ
loài cá voi này. Đặc biệt trong trực tràng của chúng có chất “long diên
hương” (ambergris) - một số người còn gọi là dãi rồng vốn là hương liệu
rất quý để sản xuất nước hoa cao cấp.
Trong
6 bộ xương phục dựng ở vạn An Thạnh, ngoài bộ xương cá nhà táng còn có
hai bộ xương cá ông Chuông cũng đã phục dựng xong. Răng khá lớn, hình
nón hơi cong vào phía trong, tiết diện tròn. Khoa học cho rằng cơ thể cá
ông Chuông có dạng mình tròn kéo dài, đầu tròn nhô ra phía trước trông
giống quả chuông nên gọi là cá ông Chuông. Còn ngư dân cho rằng có tên
gọi đó là do khi cá voi lớn di chuyển thì thường có một số cá con nhỏ đi
theo hộ tống và rú lên tiếng kêu như những hồi chuông khi phun nước.
Trong
thiên nhiên, màu sắc thường có màu xám đen với những vùng màu sáng hơn ở
phía bên dưới, đôi khi phía trước đầu có màu đậm hơn. Con trưởng thành
có chiều dài tối đa 5 - 6m (con đực lớn hơn con cái) và trọng lượng đến
khoảng 1.500 - 2.000 kg. Con mới sinh dài từ 1,50 - 2,10m.
Sau
nhiều tháng thi công, hiện nay 6 bộ xương thuộc họ cá voi tại vạn An
Thạnh đã hoàn tất phần phục dựng, chỉ còn phần trang trí mỹ thuật và
trưng bày hỗ trợ thêm tranh ảnh, tài liệu nói thêm về loài cá này. Riêng
bộ xương cá nhà táng khi phục dựng với chiếc đầu lớn và dài, hai hàm
răng nhọn và sắc bén, lởm chởm như răng cá mập trắng, trông thật kinh
khủng. Dự kiến đến cuối tháng 12 năm 2011, tức khoảng 20 ngày trước Tết
Nguyên đán Nhâm Thìn, dự án hoàn tất và sẽ đưa vào nghiệm thu để phục vụ
nhân dân và khách tham quan nghiên cứu.
Có
thể nói đây là bảo tàng biển đầu tiên ở Việt Nam xây dựng ngay trên
đảo. Nội dung đầy đủ cả hai phần: văn hóa vật thể bao gồm các kiến trúc
cổ có từ năm Tân Sửu 1781 và đến nay thêm 6 bộ xương cá voi được trưng
bày; văn hóa phi vật thể bao gồm các lễ nghi, lễ hội, sắc phong, văn tế,
thần phả… kết hợp với nhau tạo thành một bảo tàng văn hóa biển rất
phong phú, đáp ứng được nhu cầu khám phá về văn hóa biển của khách du
lịch.
Nguyễn Xuân Lý
LIÊN TRÌ, NGÔI CHÙA 264 TUỔI
Năm 1740 đời vua Lê Cảnh Hưng , trong một vùng rừng tre um tùm rậm rạp
tại thôn Long Đàm thuộc tổng Trung huyện Hòa Đa xứ Phan Thiết phủ Bình
Thuận ngày ấy, những người sùng bái đạo Phật đã cùng nhau dựng lên một
ngôi chùa bằng tranh tre để thờ Đức Phật A Di Đà, tục danh nôm na là
Chùa Tre. 43 năm sau, trên đường bôn tẩu vô Nam, vua Gia Long có ghé qua
Chùa Tre, thấy chùa chưa có tên, Vua bèn đặt cho tên Liên Trì tức “ao
sen”, xem nơi đây như chốn cảnh giới cực lạc của Đức Phật và tiếp rước
chúng sinh sau khi lâm chung.
Đọc Tiếp...…
Trong khoảng từ năm
1804-1810, vị Hòa Thượng Đạo Chơn-Quang Huy từ Phú Yên vào Bình Thuận,
được dân làng cung thỉnh trụ trì tại chùa, ông đã cho đúc quả Đại Hồng
Chung bằng đồng cao 1,5m vào năm Bính Tý 1812, hiện vẫn còn lưu giữ tại
chùa. Sau khi Hòa Thượng Quang Huy viên tịch, Hòa Thượng Đạo Tín-Hải
Chấn kế tục, ông là người không chỉ có công đầu trong truyền bá và giảng
dạy khoa “Nghi ứng phú đạo tràng” (một hình thức nghi lễ tán tụng của
Phật giáo) một cách qui mô ở Bình Thuận mà còn có công cải biên âm điệu
tang đẩu (một loại hình âm nhạc nghi lễ Phật giáo) của Phú Yên thành âm
điệu tang đẩu riêng của Bình Thuận. Đến năm 1855, chùa được trùng tu lần
thứ nhất, xây gạch lợp ngói âm dương, có kiến trúc theo hình chữ
“khẩu”, tiền Phật hậu Tổ, hai nhà nghỉ hai bên hành lang đông tây.
Trường tồn trong 264 năm cùng sự đi lên của Bình Thuận với 23 đời trụ trì và 3 lần trùng tu, đến nay Liên Trì Tự vẫn giữ được dáng nét của ngôi chùa cổ xưa, không chỉ là một cảnh trí đẹp trên địa bàn khu phố 6 phường Đức Nghĩa (số 3 Nguyễn Văn Cừ-Phan Thiết), giúp các ni sư phật tử vãn chùa có những phút thư giãn tịnh tâm, mà chùa Liên Trì còn là ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Bình Thuận còn lưu giữ khá nhiều cổ vật của Phật Giáo như quả Đại Hồng Chung, một số tượng cổ của Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Bồ Tát Quán Thế Âm cùng các thánh hiền, đặc biệt là 3 pho tượng cổ Phật tam thân bằng đồng, một chuông gia trì đời Tự Đức, một bảo chứng, nhiều pháp khí cổ cùng một số liễn đối có giá trị khác. Ngày 17 tháng Mười Giáp Thân tới đây (nhằm ngày 28/11/2004), giới Phật giáo Bình Thuận sẽ trang trọng tổ chức lễ kỷ niệm 264 năm ngày dựng lập nên chùa Liên Trì.
Trường tồn trong 264 năm cùng sự đi lên của Bình Thuận với 23 đời trụ trì và 3 lần trùng tu, đến nay Liên Trì Tự vẫn giữ được dáng nét của ngôi chùa cổ xưa, không chỉ là một cảnh trí đẹp trên địa bàn khu phố 6 phường Đức Nghĩa (số 3 Nguyễn Văn Cừ-Phan Thiết), giúp các ni sư phật tử vãn chùa có những phút thư giãn tịnh tâm, mà chùa Liên Trì còn là ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Bình Thuận còn lưu giữ khá nhiều cổ vật của Phật Giáo như quả Đại Hồng Chung, một số tượng cổ của Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Bồ Tát Quán Thế Âm cùng các thánh hiền, đặc biệt là 3 pho tượng cổ Phật tam thân bằng đồng, một chuông gia trì đời Tự Đức, một bảo chứng, nhiều pháp khí cổ cùng một số liễn đối có giá trị khác. Ngày 17 tháng Mười Giáp Thân tới đây (nhằm ngày 28/11/2004), giới Phật giáo Bình Thuận sẽ trang trọng tổ chức lễ kỷ niệm 264 năm ngày dựng lập nên chùa Liên Trì.
Khu lăng mộ Nguyễn Thông - Phú Hài - Phan Thiết
Nguyễn Thông
là nhà trí thức yêu nước, nhà thơ, nhà văn và nhà hoạt động xã hội có
ảnh hưởng lớn ở miền Nam nước ta nửa đầu thế kỷ XIX. Sau khi mất, theo
nguyện vọng khi còn sống cụ được gia đình,bạn bè chôn cất dưới chân núi
Cố thuộc xã Phú Hải, cách thành phố Phan Thiết 9km về phía Đông.
Nguyễn Thông sinh ngày 28.5.1827 tại làng Bình Thạnh, tổng Thạch Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Ông là người học rộng, tài cao, được triều đình Huế giao giữ nhiều chức vụ quan trọng và được bổ nhiệm làm quan ở một số tỉnh, trong đó có tỉnh Bình Thuận, Vĩnh Long, Quảng Ngãi. Tuy làm quan trong triều nhưng ông rất căm thù thực dân Pháp. Những năm ở Bình Thuận Nguyễn Thông đã có ý thức chuẩn bị kế hoạch xây dựng căn cứ chống Pháp lâu dài.
Nguyễn Thông sinh ngày 28.5.1827 tại làng Bình Thạnh, tổng Thạch Hội Hạ, huyện Tân Thạnh, phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Ông là người học rộng, tài cao, được triều đình Huế giao giữ nhiều chức vụ quan trọng và được bổ nhiệm làm quan ở một số tỉnh, trong đó có tỉnh Bình Thuận, Vĩnh Long, Quảng Ngãi. Tuy làm quan trong triều nhưng ông rất căm thù thực dân Pháp. Những năm ở Bình Thuận Nguyễn Thông đã có ý thức chuẩn bị kế hoạch xây dựng căn cứ chống Pháp lâu dài.
Ông
đã đi rất nhiều nơi trong tỉnh Bình Thuận, đã phát hiện nhiều khu vực
đất đai trù phú như khu vực sông La Ngà, Đức Linh và chính những điều
tai nghe mắt thấy sau này để lại cho ra đời nhiều tác phẩm văn thơ hay.
Nguyễn Thông đã tập hợp dân ”tị địa” lập ra "Đồng Châu xã” để tạo cho họ
có tổ chức tương tự làm ăn sản xuất ổn định cuộc sống tại Bình Thuận
sau khi lánh từ trong Nam ra.
Nguyễn Thông mua đất cất
nhà tại Phan Thiết và ông coi đây là quê hương thứ hai của mình (khu vực
di tích Dục Thanh hiện nay). Năm 1880 ông cất thêm một ngôi nhà nhỏ đặt
tên Ngoạ Du Sào nghĩa là “Tổ nằm chơi” để đọc sách làm thơ. Đến nay
trong Ngoạ Du Sào vẫn còn hai câu liễn của Nguyễn Tư Giãn tặng Nguyễn
Thông cũng là hiện vật trong khu di tích Dục Thanh. Là nhà trí thức yêu
nước, với vốn tích lũy nhiều, đi nhiều và hiểu biết nhiều, ông đã làm
nhiều thơ văn và ra đời hàng chục quyển của các bộ “Ngọa Du Sào tập”,
“Độn Am văn tập”, “Kỳ Xuyên văn sao”, “Dưỡng chính lục”....
Những năm tháng cuối đời
Nguyễn Thông đã để lại cho bạn bè, gia đình và nhân dân Phan Thiết tấm
lòng kính yêu. Ông mất ngày 07.7.1884 (tức 27.8 năm Giáp Thân). Mộ chí
của Nguyễn Thông xây cất dưới chân núi Ngọc Sơn (núi Cố) thuộc thôn Ngọc
Lâm xã Phú Hải, thành phố Phan Thiết. Lúc còn sống Nguyễn Thông thường
ngày qua đây chọn núi Cố làm nơi yên nghỉ của mình. Núi Cố có nhiều cây
cối, chim chóc, dưới chân núi là biển cả tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu
tình.
Ngôi mộ được xây giản dị,
gần gũi như tấm lòng và con người của ông. Mộ có chiều dài 9,45m rộng
6,35 m phần chính mộ đắp hình con lân như những ngôi mộ người xưa. Trên
mộ có tấm bia bằng đá, khắc chữ Hán, nội dung trên bia là bài văn bia do
chính Nguyễn Thông viết : “...Sau khi ta trăm tuổi rồi, hồn phách
còn nhớ đến núi này chăng? hoặc rốt cuộc cũng về chốn không còn gì
chăng? Điều đó đều không thể biết được. Còn như trăng biển, buồm ngư
phủ, chòi tiều phu vẽ lạ của khói mây thay đổi, hình thù của thuồng
luồng chập chờn, sau này cảnh đó có thể giúp vào cuộc thưởng thức của
tao nhân du khách vậy”.
Khu lăng mộ cụ Nguyễn Thông đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử năm 1999.
Có một "ngôi chùa đá" cổ nhất tại Bình Thuận
Cổ Thạch Tự có nghĩa là "chùa
đá xưa", còn có tên gọi mộc mạc dân dã là "chùa Hang"- một trong những
danh thắng nổi tiếng ở phía Bắc tỉnh Bình Thuận và khu vực miền Nam. Ngự
trong những hang động trên đồi núi thấp ở độ cao hơn 64m so với mặt
biển, chùa Hang thấp thoáng ẩn hiện như một chốn "bồng lai" xa mờ…
Quá khứ vẫn còn mãi với thời gian Theo vị sư già Thích Quảng Đức trụ trì ở chùa đá xưa, dưới Triều Nguyễn khoảng cuối thế kỷ XIX, thì chùa Hang thuộc Bình Thuận phủ, Tuy Phong huyện, Bình Thạnh thôn, nay là xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
Đọc Tiếp...…
Quá khứ vẫn còn mãi với thời gian Theo vị sư già Thích Quảng Đức trụ trì ở chùa đá xưa, dưới Triều Nguyễn khoảng cuối thế kỷ XIX, thì chùa Hang thuộc Bình Thuận phủ, Tuy Phong huyện, Bình Thạnh thôn, nay là xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
Chùa
cách thị xã Phan Thiết 98km về phía Bắc, cách thị trấn Liên Hương 8km
về phía Đông. Phía Đông Nam của chùa giáp với biển Đông, ba mặt còn lại
là rừng núi và những dải đá nguyên sinh tuyệt đẹp. Cổ Thạch Tự mang một
vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo, gối đầu trên vùng đồi núi với hàng ngàn phiến
đá và hang động muôn màu đa dạng vô cùng huyền bí. Nơi đây quanh năm
chan hòa ánh nắng, khí hậu mát mẻ trong lành được chắt lọc bởi những
luồng gió biển mặn mà, mát lạnh. Tất cả tạo nên một thiên cảnh trầm lặng
lý tưởng cho việc tu hành của các nhà sư và trở thành điểm du lịch thú
vị cho người phàm trần.Ngược
dòng thời gian trở về những năm 1835 - 1836, lúc ấy có vị Thiền sư Bảo
Tạng tìm đến Bình Thạnh lấy việc đạo hạnh, tu tịnh để cứu vớt người đời
khỏi bể trầm luân trong lúc xã hội phong kiến Triều Nguyễn nhiễu loạn
quá nhiều mâu thuẫn. Ông đã chọn địa điểm khai lập nên Cổ Thạch Tự và
trụ trì nơi đây 5 năm. Sau đó, vị Thiền sư giao chùa cho các đệ tử trông
coi, ông tiếp tục độc hành vào phía Nam của tổ quốc và dừng chân ở miền
Đông Nam Bộ (Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu). Để tưởng nhớ công lao của
vị Thiền sư Bảo Tạng có công khai sơn lập nên Cổ Thạch Tự, nhà chùa lấy
ngày 25.05 làm ngày giỗ Tổ hàng năm. Gần
170 năm đã trôi qua, Cổ Thạch Tự từ một thảo am nhỏ đã được tôn tạo
theo thời gian và mở rộng thêm một số công trình phụ cảnh để phục vụ cư
dân bản địa và khách du lịch. Vẻ đẹp thiên nhiên hiếm có của chùa từ
lâu đã trở nên nổi tiếng được nhiều người khắp nơi biết đến, khách du
lịch thường xuyên hành hương về chùa viếng Phật và tham quan.
Hiện thực và huyền thoại
Ngôi
chùa sừng sững, nổi bật trên cao giữa bầu trời xanh lộng gió. Ngược
lại, ngay phía dưới chân chùa là đại dương mênh mông mờ ảo tạo nên một
cảnh quan sơn thủy hữu tình. Hình thể các công trình kiến trúc từ Tam
quan đến Ngọ môn, lầu Chuông, gác Trống, Chính điện nhà thờ Phật Tổ…và
các công trình khác của chùa thể hiện nghệ thuật tạo dáng tinh tế nơi
cổ tự. Đặc biệt, đập ngay vào ánh nhìn của du khách là hình tượng “tứ
linh” Long, Lân, Quy, Phụng, nét đặc trưng trong kiến trúc tôn giáo,
cung đình được thể hiện trên mái chùa và nhiều nơi tôn nghiêm nhất.
Lối
vào chùa qua cổng Tam quan quay về phía Tây Nam là con đường có 36 bậc
thang được gắn kết với nhau bằng phiến thạch. Dưới chân bậc thang là đôi
rồng uốn lượn hai bên được đúc bằng xi-măng như chào đón những ai có
duyên đến viếng chùa. Bên phải chiếc cầu gần cổng Tam quan là bức tượng
hình Hổ ngồi và bên trái là tượng Voi nằm được tạc tạo tinh vi. Ba phiến
đá tự nhiên nổi lên cao xếp thành hàng ngang ở phía trước khu Chính
điện làm nổi bật con cá Kình bằng đá tự nhiên (theo Kinh của Phật gọi là
con “ma kiệt”, một loài thủy quái được xem là hóa thân từ Phật Bà Quan
Thế Âm Bồ Tát để giúp đỡ ngư dân khi gặp nạn ở biển khơi). Nếu chui vào
từng hang đá trong khu Chính điện, du khách mới thấy hết sự trang
nghiêm của Phật đường. Mỗi hang động là mỗi vẻ đẹp tự nhiên kết hợp với
kiến trúc cổ trở nên huyền bí một cách lạ lùng.
Cổ
Thạch Tự còn là nơi giữ gìn được nhiều di sản có giá trị lịch sử, văn
hóa và nghệ thuật có sức thuyết phục lòng người. Đứng trước hàng chục
câu liễn, câu đối có niên đại cổ được khảm bằng xà cừ, chạm khắc trên
gỗ, ghép mực sành làm cho ta có cảm giác nơi đây thực sự là cảnh tiên ở
cõi trần:
“Không cốc đúc âm danh giáo địa
Xuân bôi vui thọ cổ phong nhân”.
Xuân bôi vui thọ cổ phong nhân”.
Tạm dịch là:
"Hang không người có tiếng động
Mùa xuân người xưa mi dài tuổi cao".
Mùa xuân người xưa mi dài tuổi cao".
Hoặc:
“Trống chuông mộc đã trăm lạy ba đời Phật
Đèn nhang tỏa sáng thấu chín tầng trời “
Đèn nhang tỏa sáng thấu chín tầng trời “
Biển
cả chùa Hang còn là sức hút mãnh liệt đối với những ai yêu biển. Đứng
trước biển con người bỗng dưng trở nên vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên.
Với Bãi tắm hoang sơ; bãi đá Cà Dược với những hòn cuội nhiều màu sắc
đa dạng, phong phú; Mũi Lagàn uy nghi…bao giờ cũng để lại ấn tượng khó
quên trong lòng du khách khi đã từng đến nơi đây. Về
phía Tây Nam của chùa có một eo biển khá rộng, với bãi cát vàng rực là
bãi tắm hoang sơ lý tưởng thứ hai. Theo truyền thuyết dân gian, ngày xưa
- xưa lắm, vào những đêm trăng rằm, tại nơi bãi tắm hoang vu này đã
từng có nhiều Tiên nga xuống trần tắm gội, nô đùa. Sau đó, các nàng tiên
ấy bay đến cái giếng Tiên có hình dấu chân người ở phía dưới chân chùa
Cổ Thạch uống nước, ca hát . Đến gần sáng, các nàng Tiên lại bay trở về
trời. Tên gọi Giếng Tiên có tự bao giờ không ai biết đã được kể lại và
lưu truyền cho đến hôm nay.
Cổ Thạch Tự - điểm du lịch lý tưởngKhách đến chùa Hang - Cổ Thạch Tự quanh năm. Sau khi viếng cảnh chùa, du khách thường tập trung xuống bờ biển. Chính vì thế, suốt chiều dài bãi đá con lúc nào cũng đằy ắp bóng người. Những thú vui mùa hè như tắm biển, vớt rong đuôi ngựa, nhặt bào ngư, sưu tầm đá cuội, cắm trại …có sức thu hút du khách thật sự. Mỗi người mách cho nhiều người, tốp này đến tốp kia lại đi, cứ thế mọi người bảo nhau cùng đến nơi đây tham quan, nghỉ dưỡng. Đêm ở Cổ Thạch Tự. Dưới ánh trăng vàng, du khách có thể lặng thinh lắng nghe tiếng sóng biển rì rào, thì thầm những bản tình ca muôn thuở. Và mọi người cùng tận hưởng bầu không khí trong lành, luồng gió mát rượi mang hương vị nồng nàn mặn chát của biển, dõi mắt tận khơi xa để có thể thấy được hàng nghìn chiếc đèn câu nhấp nháy trong đêm như một thành phố nổi trên mặt nước. Thật là thiếu sót nếu không nhắc đến người dân bản địa nơi đây. Nếu như cảnh vật của chùa Hang nên thơ kỳ vĩ bao nhiêu thì người dân Bình Thạnh cần cù lao động, chân chất hiền hòa bấy nhiêu và bền bỉ kiên cường, đấu tranh bất khuất chống giặc ngọai xâm. Từ thuở khai thiên lập địa đến nay, Cổ Thạch Tự đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Ngoài việc đạo, bước đi của chùa còn gắn với việc đời, việc nước cùng với nhân dân góp phần giải phóng quê hương. Chùa Hang còn là điểm bí mật nuôi giấu cán bộ, trong đó có nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Chính phủ. “Hang âm phủ” ở phía sau Lầu Trống (nay đã lấp kín), chính là con đường độc đạo ngầm sâu trong lòng đất có lối ra tận bờ biển đã giúp cho nhiều cán bộ cách mạng thoát khỏi nhiều trận càn quét, bắn phá của giặc trong suốt 2 thời kỳ kháng chiến. Cổ Thạch Tự đã tồn tại biết bao thế hệ, gắn với nhiều ý nghĩa về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa và có giá trị đích thực qua mỗi thời đại khác nhau. Không những thế giờ đây, Cổ Thạch Tự còn là điểm dừng chân du lịch lý tưởng của thế hệ hôm nay và cho cả thế hệ mai sau.
Cổ Thạch Tự - điểm du lịch lý tưởngKhách đến chùa Hang - Cổ Thạch Tự quanh năm. Sau khi viếng cảnh chùa, du khách thường tập trung xuống bờ biển. Chính vì thế, suốt chiều dài bãi đá con lúc nào cũng đằy ắp bóng người. Những thú vui mùa hè như tắm biển, vớt rong đuôi ngựa, nhặt bào ngư, sưu tầm đá cuội, cắm trại …có sức thu hút du khách thật sự. Mỗi người mách cho nhiều người, tốp này đến tốp kia lại đi, cứ thế mọi người bảo nhau cùng đến nơi đây tham quan, nghỉ dưỡng. Đêm ở Cổ Thạch Tự. Dưới ánh trăng vàng, du khách có thể lặng thinh lắng nghe tiếng sóng biển rì rào, thì thầm những bản tình ca muôn thuở. Và mọi người cùng tận hưởng bầu không khí trong lành, luồng gió mát rượi mang hương vị nồng nàn mặn chát của biển, dõi mắt tận khơi xa để có thể thấy được hàng nghìn chiếc đèn câu nhấp nháy trong đêm như một thành phố nổi trên mặt nước. Thật là thiếu sót nếu không nhắc đến người dân bản địa nơi đây. Nếu như cảnh vật của chùa Hang nên thơ kỳ vĩ bao nhiêu thì người dân Bình Thạnh cần cù lao động, chân chất hiền hòa bấy nhiêu và bền bỉ kiên cường, đấu tranh bất khuất chống giặc ngọai xâm. Từ thuở khai thiên lập địa đến nay, Cổ Thạch Tự đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Ngoài việc đạo, bước đi của chùa còn gắn với việc đời, việc nước cùng với nhân dân góp phần giải phóng quê hương. Chùa Hang còn là điểm bí mật nuôi giấu cán bộ, trong đó có nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Chính phủ. “Hang âm phủ” ở phía sau Lầu Trống (nay đã lấp kín), chính là con đường độc đạo ngầm sâu trong lòng đất có lối ra tận bờ biển đã giúp cho nhiều cán bộ cách mạng thoát khỏi nhiều trận càn quét, bắn phá của giặc trong suốt 2 thời kỳ kháng chiến. Cổ Thạch Tự đã tồn tại biết bao thế hệ, gắn với nhiều ý nghĩa về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa và có giá trị đích thực qua mỗi thời đại khác nhau. Không những thế giờ đây, Cổ Thạch Tự còn là điểm dừng chân du lịch lý tưởng của thế hệ hôm nay và cho cả thế hệ mai sau.
Tháp Chăm Pô Sa Nư huyền thoại
Nhóm ðền Tháp Chãm PôSaNư
tọa lạc trên ðồi Bà Nài thuộc xã Phú Hải về phía Ðông-Bắc cách Tp. Phan
Thiết khoảng 7km ðược người Chãm xây dựng từ những cuối thế kỷ IX thuộc
phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa Lài - một trong những phong cách
kiến trúc nghệ thuật cổ của Vương quốc Chãm-pa, mà hiện nay những ngôi
tháp này còn lại rất ít như một số phế tích ở khu thánh ðịa Mỹ Sõn, còn
lại nhóm Hòa Lai (Phan Rang) nhóm PôDam (Tuy Phong - Bình Thuận) và
tương ðối nguyên vẹn là nhóm ðền tháp PôSaNư.
Đọc Tiếp...…
PôSaNư là nhóm ðền tháp Chãm có vai trò quan trọng trong các di tích
kiến trúc Chãm ở Bình Thuận, từ hình dạng kiến trúc ðến kỹ thuật xây
dựng và trang trí nghệ thuật trên thân tháp, các vòm cuốn, các cửa
chính, cửa giả, trong lòng và lên ðến ðỉnh tháp.
Riêng kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân tháp ðủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt của phong cách Hòa Lai.

So với những tháp Chăm khác, đến nay hàng năm vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng lân cận đến làm lễ cầu mưa và những nghi lễ khác liên quan đến phong tục tập quán của họ. Một điều khá lý thú nữa là đối với ngư dân những vùng lân cận truớc khi đi biển cũng đến đây cầu xin cho những chuyến đi biển được bình yên. Nhóm đền tháp Chăm PôSaNư được Nhà nước xếp hãng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1991.
Riêng kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân tháp ðủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt của phong cách Hòa Lai.

So với những tháp Chăm khác, đến nay hàng năm vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng lân cận đến làm lễ cầu mưa và những nghi lễ khác liên quan đến phong tục tập quán của họ. Một điều khá lý thú nữa là đối với ngư dân những vùng lân cận truớc khi đi biển cũng đến đây cầu xin cho những chuyến đi biển được bình yên. Nhóm đền tháp Chăm PôSaNư được Nhà nước xếp hãng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1991.
Trường Dục Thanh - Nơi Bác Hồ đã dừng chân dạy học tại Phan Thiết
Trường Dục Thanh xây dựng năm 1907 (cùng năm
xây dựng với trường Đông Kinh Nghĩa Thục) tạo lạc trên địa bàn làng
Thành Đức nay là số 39 đường Trưng Nhị, phường Đức Nghĩa, TP. Phan Thiết
để hưởng ứng phong trào Duy Tân do cụ Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và
Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng. Trường do các cụ Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn
Quý Anh (hai người con của nhà văn nhà thơ Nguyễn Thông) thành lập. Mục
tiêu của phong trào Duy Tân và của trường là mở mang dân trí, thức dậy ý
thức dân tộc, nòi giống . Đây là trường tư thục có nội dung giảng dạy
tiến bộ nhất ở Bình Thuận lúc bấy giờ.
Đọc Tiếp...…
Năm
1910 trên đường đi tìm phương cứu nước, thầy giáo Nguyễn tất Thành (
sau này là Hồ Chí Minh) được cụ Nghè Trương Gia Mô giới thiệu đã đến
Phan Thiết và dừng chân dạy học ở
trường Dục Thanh. Học sinh của trường có khoảng 60 người cùng 7 thầy
giáo giảng dạy các bộ môn : Hán Văn, Pháp văn, Thể dục thể thao…Thầy
Thành dạy lớp nhì, chủ yếu là dạy quốc ngữ, Hàn văn. Trong thời gian dạy
học ở trường Dục Thanh ngoài những nội dung được phân công giảng dạy,
thầy Thành còn bằng tình cảm người thầy, người anh đã
truyền bá lòng yêu quê hương đất nước, nòi giốngtổ tiên cho học sinh.
Những giờ học ngoại khoá, những lúc rảnh Thầy dẫn học sinh du ngoạn cảnh
đẹp như ở thị xã Phan Thiết lúc bấy giờ như bãi biển Thương Chánh, động
làng Thiềng, đình làng Đức Nghĩa.
Vào khoảng tháng 2/1911 Thầy Thành rời trường Dục Thanh và Phan Thiết vào Sài Gòn vượt đại dương đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Một vài năm sau, ông Nguyễn Trọng Lội qua đời, ông Nguyễn Quý Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn người phụ trách và nhiều lý do khách quan khác nên trường đóng cửa vào năm 1912.
Vào khoảng tháng 2/1911 Thầy Thành rời trường Dục Thanh và Phan Thiết vào Sài Gòn vượt đại dương đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Một vài năm sau, ông Nguyễn Trọng Lội qua đời, ông Nguyễn Quý Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn người phụ trách và nhiều lý do khách quan khác nên trường đóng cửa vào năm 1912.
Núi Tà Cú
Núi Tà Cú nằm ở huyện Hàm Thuận Nam (Bình
Thuận. Đây là một địa chỉ du lịch hấp dẫn tất cả du khách khi đặt chân
đến miền đất nắng gió này.
Ðến Tà Cú, bạn hãy một lần thưởng thức cảm giác lâng lâng khi ngồi trên ca-bin cáp treo. Hệ thống cáp treo trên núi có công suất 700 - 1.000 khách/giờ, bình quân 7 - 10 phút/chuyến từ nhà ga dưới chân núi lên nhà ga trên đỉnh núi. Cùng với những cánh rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên, núi Tà Cú đã được xếp hạng là Khu thắng cảnh quốc gia năm 1993.
Đọc Tiếp...…
Núi
Tà Cú cao 475 m so với mặt nước biển. Từ chân núi, du khách phải leo
mấy trăm bậc mới lên tới đỉnh. Buổi sáng, khi mặt trời chưa ló rạng,
ngọn núi như được bao phủ bởi một màn khói sương trắng toát, những đụn
mây bay là là khắp các ngọn cây, phong cảnh núi rừng càng trở nên mơ
mộng và trác tuyệt. Ðứng trên đỉnh núi, du khách có thể thưởng ngoạn
cảnh sắc thiên nhiên chung quanh thật tuyệt vời và hóng gió biển thật
khỏe khoắn. Ðó là phần thưởng lớn dành cho những ai đã cất công trèo
non, tìm vui với thiên nhiên. Phía xa là bờ biển im ắng trải dài một mầu
xanh mát, những núi đá mờ ảo cùng mầu lục của khu rừng như trầm lặng
dưới áng mây trôi.
Trên đỉnh núi có một ngôi cổ tự, dân
gian gọi là chùa Tà Cú, tên chữ là Linh Sơn Trường Thọ, ẩn mình trong
khung cảnh tĩnh mịch của thiên nhiên cây cỏ, không chút bụi trần. Ðây là
ngôi cổ tự vào hàng lâu đời nhất tọa lạc tại tỉnh Bình Thuận hiện nay.
Chùa được dựng năm 1872, dưới triều Nguyễn. Vị Tổ sư khai sáng chùa là
Hòa thượng Trần Hữu Ðức (1812 - 1887). Ngài nổi tiếng với hậu thế như là
một bậc danh y đức cao vọng trọng, đã có công chữa bệnh cho Hoàng Thái
hậu Từ Dũ tại Huế và được ban sắc phong là Ðại Lão Hòa Thượng.
Xem kiến trúc chùa, du khách còn có cơ
hội ngắm tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn (tượng Phật nằm). Ðây là
tượng Phật nằm lớn nhất Ðông - Nam Á, dài 49 m, cao 10 m. Pho tượng do
kiến trúc sư Trương Ðình Ý chỉ đạo xây dựng và hoàn thành vào năm 1962.
Pho tượng mang phong cách kiến trúc thời xa xưa, với vẻ ngoài hình thể
mập mạp, hài hòa, cân đối. Sống mũi thẳng, gương mặt tròn đầy đặn, đượm
vẻ phúc hậu của một nhà tu hành đã thoát tục. Cách đó chừng 50 m là bộ
ba tượng Tam Thế gồm A Di Ðà, Quan Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí. Cả ba
pho tượng có chiều cao khoảng 7m, với nét mặt hiền hòa như đang nhìn bao
quát cả thế gian như sẵn sàng cứu nhân độ thế. Sau lưng tượng Phật là
rừng nguyên sinh, xanh ngát bởi mầu lá cây rậm rạp, che kín, tạo nên một
tổng thể rừng quốc gia thiên nhiên rộng 25 nghìn ha.
Nét đặc biệt của núi Tà Cú là phong
cảnh rừng bằng lăng nở hoa tím ngắt, có nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm
tuổi, quanh năm hoa nở tầng tầng lớp lớp. Dưới chân núi là rừng chuối,
bốn mùa xanh tươi, quả trĩu buồng. Ðặc biệt, chuối ở đây thơm ngon nổi
tiếng, do cây chuối mọc trên đá, hàm lượng bột cao, mềm, ngọt lịm. Hệ
thống nhà hàng trên núi và dưới chân núi phục vụ khách trong không khí
nhiệt thành, cởi mở của đội ngũ nhân viên bản địa.
Ðến Tà Cú, bạn hãy một lần thưởng thức cảm giác lâng lâng khi ngồi trên ca-bin cáp treo. Hệ thống cáp treo trên núi có công suất 700 - 1.000 khách/giờ, bình quân 7 - 10 phút/chuyến từ nhà ga dưới chân núi lên nhà ga trên đỉnh núi. Cùng với những cánh rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên, núi Tà Cú đã được xếp hạng là Khu thắng cảnh quốc gia năm 1993.
Núi Tà Cú liền tuyến với Mũi Né - Hòn
Rơm - Ðồi Hồng - Ðồi Dương - Cổ Thạch tạo thành tuyến lữ hành dã ngoại ,
hào hứng cho du khách trong và ngoài nước. Vào các mùa trong năm, nhất
là những dịp Tết, xuân Tà Cú luôn tấp nập khách thập phương ngoạn cảnh.
Qua thời gian, chùa núi được bàn tay kiến tạo của con người bồi đắp dần,
để có một công trình đồ sộ nổi tiếng như ngày nay, không những chỉ
riêng tỉnh Bình Thuận mà cho cả vùng đông nam Trung Bộ.




















































